AMBIENT
  • Câu hỏi:

    Trình bày nội dung cơ bản triết học Nho giáo? 

    Lời giải tham khảo:

    • Nho giáo là thuật ngữ bắt nguồn từ chữ "Nho". Theo Hán tự, "Nho" là chữ "Nhân" đứng cạnh chữ "Nhu" mà thành. Nhân là người, Nhu là cần dùng, tức là một hạng người bao giờ cũng cần dùng đến để giúp cho nhân - quần - xã hội biết đường ăn, ở và hành động cho hợp lẽ trời. Chữ Nhu, nghĩa là chờ đợi, đó là những người tài giỏi, đợi người ta cần đến, dùng đến đem tài trí của mình mà giúp đời. Nho gia còn được gọi là nhà Nho, người đã đọc thấu sách thánh hiền, được thiên hạ trọng dụng, dạy bảo cho mọi người sống hợp luân thường, đạo lý. 
    • Nho giáo xuất hiện rất sớm, lúc đầu nó chỉ là những tư tưởng và tri thức chuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị vì đất nước. Đến thời Khổng Tử, đã được Khổng Tử hệ thống hóa thành học thuyết, còn gọi là Khổng học. Khổng Tử đã phát huy học thuyết của Nho gia và định rõ những tư tưởng chủ yếu của nó:
      • Nói về chữ Dịch, sự biến hoá của vũ trụ, quan hệ đến vận mệnh của con người; 
      • Nói về những mối luân thường đạo lý của xã hội;
      • Nói về các lễ nghi trong việc tế tự trời – đất; quỷ – thần. Nho giáo phát triển qua các thời đại khác nhau, mỗi giai đoạn đều có những đại biểu nhất định, nhưng Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử được coi là những đại nho. 

    Tác phẩm kinh điển 

    • Bộ Tứ Thư 
      • Đại học: Nguyên văn của Khổng Tử gồm 205 chữ do Tăng Tử chép lại và chú giải. Nội dung chính là tu thân - xử thế sao cho nhân đạo phù hợp với thiên đạo. Đó là tư tưởng tu thân, tề gia, trị quốc bình thiên hạ.
      • Trung dung: Sách triết lý phổ thông, 33 chương do Tử Tư cháu của Khổng Tử chép lại. Triết lý hành động đề cao trung dung và biết chờ thời.
      • Luận ngữ: Lời giảng của Khổng Tử do các môn đồ ghi chép lại, gồm 10 quyển, 20 chương.
      • Mạnh Tử: 7 quyển, 14 chương, ghi những lời chú giải của Mạnh Tử để làm sáng tỏ học thuyết của Khổng Tử. Ba nội dung chính là tâm học (tính thiện), chính trị học (nhân ái) và công đức Mạnh Tử. 
    • Ngũ kinh
      • Kinh Thi: Sưu tầm những bài ca dao, phong dao từ thời thượng cổ đến thời Chu Bình Vương (770 trước công nguyên). Gồm 300 thiên, chia làm 3 phần: Phong (phong tục các nước); Nhã (việc nhà Chu); Tụng (dùng trong việc tế lễ).
      • Kinh Thư: 28 chương, ghi chép những lời dạy, các thệ, mệnh của các lãnh chúa, hiền thân từ Nghiêu, Thuấn đến Đông Chu. Đây là sử liệu quý giá về quá trình diễn biến của dân tộc Trung Hoa.
      • Kinh Dịch: Sách viết về lẽ biến hoá của trời đất, vạn vật xét đoán Họa - Phúc - Thành - Suy của đời người. Sách gồm 2 quyển: Kinh gồm 2 quyển có 8 quẻ lớn, 64 quẻ kép, 284 hào, v.v... Truyện gồm 10 thiên lý giải các lẽ biến dịch huyền ảo của tạo hoá.
      • Kinh Lễ: Ghi chép lễ nghi, biểu lộ tình cảm tốt, tiết chế dục tình, nuôi dưỡng tình cảm thiêng liêng, phân chia trật tự, thang bậc xã hội. Gồn ba phần: Nghi lễ (quan hôn tang lễ); Chu Lễ (nghi lễ nhà Chu);Lễ ký (ý nghĩa các nghi lễ). Hai phần đầu đã bị thất lạc, chỉ còn phần Lễ ký.
      • Kinh Xuân Thu: Tương truyền do chính Khổng Tử biên soạn. Đó là bộ sử thời Đông Chu. Vừa có tính biên niên sử vừa có tính triết lý chính trị vì có những lời chú giải và phê phán của Khổng Tử. Và cuốn này ông viết: “ Thiên hạ biết tới ta là do Kinh Xuân Thu, thiên hạ kết tội ta cũng do Kinh Xuân Thu”. 

    Những tư tưởng triết học cơ bản

    • Nho giáo là một học thuyết đạo đức - chính trị xã hội dạy về cách hành xử của một “Chính nhân quân tử” trong xã hội, tức là cách người quân tử tổ chức, cai trị xã hội. Nho giáo lấy việc tạo sự ổn định và sự phát triển làm trọng, bằng cách sử dụng đường lối Đức trị và Lễ trị đã có từ thời Nhà Chu. Để xây dựng đường lối Đức trị và Lễ trị Khổng tử đã xây dựng học thuyết: Nhân - Lễ - Chính danh. Đây là ba phạm trù quan trọng nhất trong học thuyết của Khổng tử. Nhân là nội dung, Lễ là hình thức còn Chính danh là con đường đạt đến điều nhân.

     Nho giáo Việt Nam 

    • Sự du nhập nho giáo và sự ảnh hưởng của nó có ý nghĩa rất lớn trong hệ thống chính trị - văn hoá truyền thống Việt Nam xét cả mặt tích cực và tiêu cực của nó. Nho giáo với hệ thống tư tưởng, chính trị của mình đã giúp xây dựng các nhà nước trung ương tập quyền mạnh và một hệ thống quản lý xã hội chặt chẽ, v.v... Nho giáo đã đào tạo các tầng lớp Nho sĩ Việt Nam yêu nước, tài năng kiệt xuất phục vụ cho sự nghiệp xây dựng bảo vệ tổ quốc và phát triển kinh tế, văn hoá xã hội. 
    • Ngày nay, tuy không còn ảnh hưởng nhiều đến đời sống chính trị, nhưng tư tưởng nho giáo tác động rất lớn trong đời sống văn hoá truyền thống của con người Việt Nam. Sự ảnh hưởng đó không chỉ thể hiện về mặt tâm linh, phong tục tập quán mà còn trên những tư tưởng: Nhân - Lễ - Nghĩa, v.v... trong các quan hệ xã hội của con người Việt Nam hiện nay.
    ADSENSE

 

 

CÂU HỎI KHÁC

AMBIENT
?>