Xin gửi đến các em học sinh lớp 12 tài liệu Bộ 3 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 trường THPT Phan Bội Châu đã được Học247 sưu tầm và chọn lọc dưới đây, tài liệu được biên soạn nhằm giúp các em củng cố kiến thức môn Ngữ văn để chuẩn bị tốt nhất cho kì thi sắp tới.
|
TRƯỜNG THPT PHAN BỘI CHÂU |
ĐỀ THI THỬ THPT QG MÔN: NGỮ VĂN NĂM HỌC: 2021 (Thời gian làm bài: 120 phút) |
ĐỀ SỐ 1
I. PHẦN ĐỌC – HIỂU
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:
Năm tháng qua đi, bạn sẽ nhận ra rằng ước mơ không bao giờ biến mất. Kể cả những ước mơ rồ dại nhất trong lứa tuổi học trò – lứa tuổi bất ổn định nhất. Nếu bạn không theo đuổi nó, chắc chắn nó sẽ trở lại một lúc nào đó, day dứt trong bạn, thậm chí dằn vặt bạn mỗi ngày. Lúc ấy, có thể bạn sẽ phải ngậm ngùi mà thốt lên: “Chao ôi, ta đã làm chi đời ta vậy?”
Nếu vậy, sao ta không nghĩ đến điều này ngay từ bây giờ?
Sao ta không ngồi xuống đây trong một ngày cuối năm và tìm kiếm câu trả lời từ đáy tim mình: Ta muốn làm gì? Ta muốn sống ra sao? Ta muốn trở thành ai trong cuộc đời này? Ta muốn làm chi đời ta?
Sống một cuộc đời cũng như vẽ một bức tranh vậy. Nếu bạn nghĩ thật lâu về điều mình muốn vẽ, nếu bạn dự tính được càng nhiều màu sắc mà bạn muốn thể hiện, nếu bạn càng chắc chắn về chất liệu mà bạn sử dụng, thì bức tranh trong thực tế càng giống với hình dung của bạn. Bằng không, có thể nó sẽ là những màu sắc mà người khác thích, là bức tranh mà người khác ưng ý, chứ không phải bạn.
Dan Zadra viết rằng: “Đừng để ai đánh cắp giấc mơ của bạn”. Vậy thì hãy tìm ra ước mơ cháy bỏng nhất của mình, nó đang đang nằm ở nơi sâu thẳm trong tim ta đó, như một ngọn núi lửa chờ đợi được đánh thức…
(Theo Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội Nhà văn, 2012, tr.43-44)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng của phép tu từ được sử dụng trong đoạn văn sau: “Sống một cuộc đời cũng giống như vẽ một bức tranh vậy. Nếu bạn nghĩ thật lâu về điều mình muốn vẽ, nếu bạn dự tính được càng nhiều màu sắc mà bạn muốn thể hiện, nếu bạn càng chắc chắn về chất liệu mà bạn sử dụng, thì bức tranh trong thực tế càng giống với hình dung của bạn. Bằng không, có thể nó sẽ là những màu sắc mà người khác thích, là bức tranh mà người khác ưng ý, chứ không phải bạn”.
Câu 3. Anh/Chị hiểu như thế nào về ý kiến: “Đừng để ai đánh cắp giấc mơ của bạn”?
Câu 4. “Ước mơ cháy bỏng nhất” của anh/chị là gì? Anh/Chị sẽ làm gì để biến ước mơ đó thành hiện thực? (Trả lời trong khoảng 7 – 10 dòng).
II. PHẦN LÀM VĂN
Câu 1:
Từ nội dung ở đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) với chủ đề: Theo đuổi ước mơ.
Câu 2:
Có người cho rằng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân, cái đói vừa là một cơ hội vừa là một thử thách.
Anh/Chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 1
I. PHẦN ĐỌC – HIỂU
Câu 1:
- Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
Câu 2:
- Trong đoạn văn, tác giả đã sử dụng phép tu từ so sánh, thể hiện rõ ở trong câu: “Sống một cuộc đời cũng giống như vẽ một bức tranh vậy”.
- Tác dụng: Chỉ ra sự tương đồng giữa “sống một cuộc đời” với “vẽ một bức tranh”, giúp người đọc dễ hình dung ra cách sống chủ động để biến ước mơ của mình thành hiện thực.
Câu 3:
- Ướcmơ là những khát khao mong đợi hoặc những ý tưởng đẹp đẽ mà con người muốn biến thành hiện thực.
- Con người cần biết giữ gìn bảo vệ không để những thử thách khó khăn trong cuộc sống làm thui chột ước.mơ và cũng không để người khác ngăn cản việc chúng ta thực hiện ước mơ của mình.
Câu 4:
Có thể nêu một số ý sau:
- Cần trang bị kiến thức, kỹ năng sống.
- Nỗ lực phấn đấu, không nản lòng trước những khó khăn, thất bại trên hành trình thực hiện ước mơ.
II. PHẦN LÀM VĂN
Câu 1:
* Giới thiệu vấn đề
* Giải thích vấn đề:
- “Ước mơ” là khát vọng, là mục đích cao đẹp của cuộc đời mà con người tha thiết hướng tới và mong ước đạt được.
* Bàn luận vấn đề
- Phân tích, chứng minh:
+ Trong cuộc sống, mỗi người có thể có nhiều ước mơ. Ước mơ có thể vĩ đại hay nhỏ bé nhưng phàm đã là con người thì ai cũng có ước mơ.
+ Mỗi người cần theo đuổi ước mơ. Bởi ước mơ không chỉ làm đẹp cho cuộc đời mà còn bởi ước mơ không bao giờ có sẵn. Để đạt được nó, người ta phải khát khao, kiên trì, nỗ lực, sáng suốt, bền lòng, dũng cảm vượt qua những khó khăn, thử thách, thậm chí chấp nhận thiệt thòi, hi sinh, mất mát, khổ đau để thực hiện ước mơ. Ước mơ càng lớn càng cao đẹp bao nhiêu thì đòi hỏi con người càng phải nỗ lực bấy nhiêu.( Dẫn chứng).
- Khi đã có ước mơ, ta hãy lên kế hoạch cụ thể để từng bước chinh phục nó.
- Bàn luận mở rộng:
+ Những ước mơ chân chính dù lớn, dù nhỏ đều làm cho cuộc đời thêm ý nghĩa.
+ Thật buồn cho những con người sống một đời mà không biết theo đuổi ước mơ.
- Bài học: HS cần rút ra bài học chân thành, thiết thực.
Câu 2:
1. Mở bài:
* Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn. Thế giới nghệ thuật của ông là khung cảnh làng quê và hình tượng người nông dân. Đó là mảng hiện thực mà ông gắn bó và hiểu biết sâu sắc. Ông viết chân thực và xúc động về đời sống người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của họ - những con người gắn bó tha thiết, thủy chung với quê hương và cách mạng. Sáng lên trong các tác phẩm của ông là vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam, những người sống cực nhọc, lam lũ, nghèo khổ nhưng vẫn yêu đời, chất phác, lạc quan, hóm hỉnh và tài hoa.
- Vợ nhặt của Kim Lân xứng đáng thuộc loại những truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Có nhà nghiên cứu văn học đã xếp Vợ nhặt vào loại gần như “thần bút”.
2. Thân bài:
2.1. Giải thích ý kiến:
- Truyện ngắn được xây dựng trên nền hiện thực là nạn đói năm 1945. Cái đói là thử thách bởi đối mặt với nó là hiện thực về cuộc sống thiếu thốn, nghiệt ngã và con người vì cái đói mà rẻ rúng cả nhân cách của mình. Cái đói là cơ hội bởi trong chính cái đói đó con người tìm thấy những hạnh phúc bình dị, đời thường và tìm thấy con đường để đổi đời cho mình, cơ hội để bộc lộc tình người tha thiết.
2.2. Phân tích truyện ngắn để làm rõ ý kiến:
* Cái đói là thử thách
- Con người phải đối mặt với cuộc sống thiếu thốn, đối mặt với cái chết cận kề từng ngày:
+ Kim Lân mở đầu truyện ngắn bằng hình ảnh một buổi hoàng hôn lạnh lẽo, ảm đạm:
- Màu sắc: màu xanh xám của da người, màu đen kịt của đàn quạ bay trên trời.
- Mùi vị: mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người, mùi đốt đống dấm khét lẹt.
- Âm thanh: tiếng quạ gào lên từng hồi, tiếng hờ khóc từ những nhà có người chết.
- Đường nét: sáng nào cũng có 3, 4 thây người nằm chết còng queo nằm bên đường. Tác giả 2 lần so sánh người với ma.
+ Ánh sáng hắt lên trang viết của Kim Lân là ánh chạng vạng. Ông đã không né tránh sự thật mà phơi bày nó một cách sâu sắc.
---(Để xem tiếp đáp án những câu hỏi còn lại vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
ĐỀ SỐ 2
I. Đọc hiểu
Đoạc đoạn văn dưới đây và trả lời câu hỏi:
Ngày nọ, một thương nhân gửi con trai mình đến một nhà thông thái không ai bằng để nhờ ông dạy cho người con bí quyết để đạt được hạnh phúc.
Anh con trai đi ròng rã bốn mươi ngày xuyên qua sa mạc mới đến được tòa lâu đài nguy nga ngự trên núi cao. Nhà thông thái anh muốn tìm đang ở đó…. anh ta phải chờ suốt hai tiếng mới đến lượt mình được tiếp.
Nhà thông thái lắng nghe anh trình bày rồi đáp rằng hiện ông không rảnh để chỉ dạy anh về bí quyết của hạnh phúc. Ông bảo anh hãy đi xem khắp tòa lâu đài rồi hai tiếng sau trở lại.
Anh con trai đi ròng rã bốn mươi ngày từ sa mạc mới đến được tòa lâu đài nguy nga trên núi cao.
“Nhưng ta yêu cầu anh làm hộ một điều”, nhà thông thái nói rồi đưa cho anh một muỗng con đựng hai giọt dầu “trong lúc đi xem thì anh cầm theo một muỗng này và nhớ đừng làm sánh dầu nhé”. Anh ta lên lầu, xuống lầu mắt không rời cái muỗng. Sau hai giờ anh quay lại gặp nhà thông thái. “Sao?” ông hỏi “Anh đã thấy cái tấm thảm Ba Tư quý giá trong phòng ăn của ta chứ?”. Cả cái vườn tráng lệ mà người làm vườn đã phải khổ công mười năm xây dựng? và những cuộn giấy da tuyệt hảo trong thư viện của ta nữa?” anh ta ngượng ngùng thú thật rằng chẳng hề để mắt đến gì khác vì cứ phải chăm chăm ngó nhìn muỗng dầu đã được giao phó. “Thế thì anh hãy đi thêm lần nữa và ngẫm cho kĩ những thứ tuyệt mỹ trong thế giới của ta”, nhà thông thái nói. “Không thể đặt tin tưởng vào một người khi mình không hề biết người ấy sống trong một ngôi nhà như thế nào”. Yên dạ hơn, anh ta lại cầm muỗng đi một vòng. Lần này anh chăm chú xem xét những vật quý treo trên tường và trên trần nhà. Anh ngắm khu vườn có núi vây quanh với đủ thứ hoa thơm cỏ lạ và mỗi tác phẩm nghệ thuật hoàn mỹ đều được để đúng chỗ thích hợp. Trở lại gặp nhà thông thái, anh kể chi tiết tất cả những gì đã thấy. “Thế còn hai giọt dầu ta nhờ anh giữ đâu rồi”, nhà thông thái hỏi. Nhìn cái muỗng, anh ta hốt hoảng thấy mình đã làm sánh mất rồi. “Đây là điều duy nhất mà ta có thể khuyên anh: bí quyết của hạnh phúc là biết ngắm nhìn mọi thứ tuyệt mĩ trên thế gian này mà không hề quên hại giọt dầu trên muỗng”.
(Nhà giả kim – Paulo Coelho, tr.50,51,52)
Câu 1: Đặt tên và xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2: Chi tiết “anh con trai đi ròng rã bốn mươi ngày từ sa mạc mới đến được tòa lâu đài nguy nga trên núi cao” có ý nghĩa gì?
Câu 3: Chỉ ra và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau: “Đây là điều duy nhất mà ta có thể khuyên anh: bí quyết của hạnh phúc là biết ngắm nhìn mọi thứ tuyệt mĩ trên thế gian này mà không hề quên hại giọt dầu trên muỗng”.
Câu 4: Nêu hai bài học mà anh/chị rút ra từ câu chuyện.
II. Làm văn
Câu 1:
Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày quan niệm của anh/chị về hạnh phúc.
Câu 2:
Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau đây:
“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
(Trích Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mạc Tử, SGK Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục)
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có thấy dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
(Trích Tây Tiến, Quang Dũng, SGK Ngữ Văn 12, Tập một, NXB Giáo dục)
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 2
I. Đọc hiểu
Câu 1:
- Tên văn bản: Bí quyết để hạnh phúc.
- Phương thức biểu đạt: Tự sự.
Câu 2:
- Chi tiết đó thể hiện khát vọng, mong muốn, sự kiên trì của anh con trai trong hành trình tìm cách để được hạnh phúc.
Câu 3:
- Biện pháp nghệ thuật: Ẩn dụ (hai giọt dầu).
=> Tác giả muốn nhấn mạnh, sống trong cuộc đời phải biết tận hưởng tận cả những gì đẹp đẽ nhất mà chúng đem đến nhưng cũng không quên gìn giữ, trân trọng những giá trị giản dị mà quan trọng của cuộc sống: gia đình, bạn bè,..
Câu 4:
- Hạnh phúc là do mỗi người vun trồng, xây dựng, không ai có có thể dạy chúng ta hạnh phúc.
- Hạnh phúc là khi được hưởng thụ mọi tinh hoa, vẻ đẹp trong cuộc sống nhưng cũng không quên đi những giá trị bền vững, cốt lõi nhất của mỗi người, đó chính là gia đình.
II. Làm văn
Câu 1:
* Giới thiệu vấn đề
* Giải thích vấn đề
- Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí.
* Bàn luận vấn đề
- Ý nghĩa của hạnh phúc
+ Khiến bản thân luôn cảm thấy thoải mái, vui vẻ.
+ Lan tỏa niềm hạnh phúc với mọi người xung quanh.
- Làm thế nào để hạnh phúc.
+ Biết thỏa mãn với những gì mình đang có. Nhưng không vì vậy mà không ngừng nỗ lực, cố gắng.
+ Cân bằng giữa mọi thứ trong cuộc sống. Có khả năng kiểm soát bản thân trước mọi cám dỗ trong cuộc đời.
+ Luôn trân quý những thứ tình cảm giản dị mà đẹp đẽ trong cuộc đời, như tình cảm gia đình, tình cảm bạn bè,…
* Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân
- Hiện nay, ta đang sống trong thời đại kinh tế xã hội ngày càng phát triển nên phần nào thoả mãn được nhu cầu của con người. Vì thế quan niệm về hạnh phúc cũng phần nào thay đổi.
- Nhưng hạnh phúc không phải chỉ là những điều to lớn mà còn nằm trong những việc gần gũi, giản dị hằng ngày mà đôi khi ta đã vô tâm mà bỏ lỡ. Vì thế, biết cách cảm nhận những rung động từ cuộc sống thường nhật đôi khi lại đem đến những niềm hạnh phúc rất dạt dào.
- Để niềm hạnh phúc trọn vẹn hơn mỗi ngày, mỗi con người nên rèn luyện cho mình một sức khoẻ tốt và một trái tim luôn rộng mở để có thể cảm nhận vẻ đẹp từ cuộc sống.
---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 2 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
ĐỀ SỐ 3
I. Đọc hiểu
Anh/chị hãy đọc văn bản sau đây và trả lời câu hỏi từ 1 đến 4
Trong cuốn Quá tải: kinh doanh du lịch bùng nổ, tác giả Elizabeth Becker gọi du lịch là ngành công nghiệp toàn cầu tàn bạo, một con dao hai lưỡi, hứa hẹn thu nhập và việc làm cho bên chủ nhà, và các trải nghiệm để đời cho bên khách, nhưng cùng lúc đó có sức tàn phá khủng khiếp với môi trường, văn hóa và cộng đồng.
Số phận các địa điểm du lịch tầm cỡ khác nhau của Việt Nam cũng tương tự ở Sapa. Ở vịnh Hạ Long, mỗi ngày 20.000 du khách được đưa đến và chuyển đi như gà con trên bang chuyền, sau khi trực tiếp xả thẳng phế thải của mình xuống dưới biển. Ở Phú Quốc, mùi nắng gió, mùi nước mắm, các đồn điền tiêu, những làng chài, tâm hồn và cá tính của hòn đảo, đang biến mất dần. Thay vào đó là chi chít hàng quán, biển hiệu rối rắm, như một thị trấn vô hồn bất kì nào khác. Người ta xẻ rừng quốc gia để đặt vào đó các lâu đài nhái kiểu cổ tích châu Âu chóp nhọn lòe loẹt xanh đỏ, những cây thông và bãi cỏ ôn đời lạ lẫm với khí hậu địa phương, biến một thiên đường nhiệt đới tự nhiên thành một “thiên đường” bê tông nhân tạo.
Du lịch đại trà là một hiện tượng toàn cầu, nhưng nó gây ra tác hại nhiều nhất ở các nước đang phát triển, vì sức chống cự của các nước này, cả về nguồn lực tài chính lẫn trình độ quản lý đều yếu kém hơn. Ở Ankor Wat, gần đây các ngôi đền bắt đầu bị lún vì mực nước ngầm hạ thấp do mức tiêu thụ của các khách sạn liên tục tăng lên. Ám ảnh nhất với tôi là Vang Viêng ở Bắc Lào. Nằm bên bờ sông Nam Song, được vây xung quanh bởi các dãy núi đá vôi trùng điệp, cái hang nhỏ duyên dáng và xinh xắn này bỗng nhiên trở thành nơi các thanh niên phương Tây tập kết để ăn chơi như không có ngày mai. Họ tụ tập ở các quán bar trải dài 4km dọc bờ sông, ăn pizza trộn với cần sa, nốc whisky đựng trong các bát ô tô nhựa, nhảy nhót trong tiếng nhạc rầm rầm, rồi nằm trong săm ô tô lao mình xuống nước xoáy để tiêu khiển. Sau mấy chục ca tử vong chỉ trong vòng một năm, chính phủ Lào phải ra tay dừng cuộc vui lại.
Mức sống chung cao lên, các đường bay giá rẻ ra đời, càng tạo điều kiện cho du lịch đại trà phát triển. Thậm chí, người ta bắt đầu sử dụng tới thuật ngữ “du lịch siêu đại trà” (mega mass tourism) để mô tả hiện tượng này. Dầu thế kỉ 21, Giáo hoàng Jonh Paul II phê phán du lịch đại trà là một hình thức bóc lột mới, nó “biến văn hóa các lễ nghi tôn giáo, và các lễ hội dân tộc thành các sản phẩm tiêu dùng” khi khách du lịch tìm tới những cái mới lạ một cách hời hợt và không muốn tiếp xúc thực sự với văn hóa bản địa.
Có thể dừng lại cỗ máy khổng lồ mang tên “phát triển” này được không? Tôi không chắc. Vì nó đang được đốt bởi lòng tham. Các doanh nghiệp thì tham lợi nhuận. Chính phủ thì tham tăng trưởng GDP. Các du khách thì tham các trải nghiệm mì ăn liền, tham được tưởng thưởng mà không phải lao động. Họ muốn “chỉ cần 15 phút để lên nóc nhà Đông Dương”, chụp selfie giữ rừng già mà vẫn đi guốc cao gót, nhẹ nhàng như vào Paris Deli.
Nhưng cũng như với mọi thứ khác trên đời, sự tham lam sẽ phá hủy hết. Lòng tham sẽ biến con ngỗng vàng mang tên du lịch thành một con quái vật. Các nhà chuyên môn đã nói nhiều về cú nổ bong bóng của các điểm đến sau thời kì tăng trưởng nóng vô độ. Với cách làm du lịch hiện nay, sẽ tới lúc Sapa giống muôn vàn những chỗ khác: vô bản sắc, ô hợp, nhân tạo và rẻ tiền. Rồi tất cả sẽ trở thành Đồ Sơn, một sự thảm hại cho cả người ở đó lẫn người tới thăm.
(Theo Bức xúc không làm ta vô can – Đặng Hoàng Giang)
Câu 1: Đoạn văn bản trên có nội dung gì?
Câu 2: Văn bản có sự kết hợp của những thao tác lập luận nào?
Câu 3: Chỉ ra và phân tích hiệu quả của hai biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản.
Câu 4: Căn cứ vào văn bản, anh/chị hãy lí giải: tại sao du lịch bị xem là một ngành công nghiệp toàn cầu tàn bạo?
II. Làm văn
Câu 1:
Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày ý kiến của anh/chị về “nguy cơ con ngỗng vàng mang tên du lịch có thể biến thành một con quái vật” ở Việt Nam.
Câu 2:
So sánh và đánh giá phần kết thúc truyện ngắn “Chí Phèo” (SGK Ngữ Văn 11, Tập một, Nxb Giáo dục) của nhà văn Nam Cao và phần kết thúc truyện ngắn “Vợ nhặt” (SGK Ngữ Văn 12, Tập hai, Nxb Giáo dục) của nhà văn Kim Lân.
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 3
I. Đọc hiểu
Câu 1:
Nội dung đoạn văn: Những tác ảnh, hưởng ảnh của du lịch đối với con người, môi trường, văn hóa (mặt trái của du lịch).
Câu 2:
- Các thao tác lập luận gồm:
+ Chứng minh: lấy dẫn chứng về sự xuống cấp ở các khu du lịch: Hạ Long, Sa Pa, Ankor Wat, Vang Viêng Bắc Lào.
+ Bình luận: những mặt trái của ngành công nghiệp du lịch
Câu 3:
Biện pháp nghệ thuật
- Biện pháp so sánh:
+ Ở Vịnh Hạ Long, mỗi ngày 20.000 du khách được đưa đến và chuyển đi như gà con trên băng chuyền, sau khi trực tiếp xả thẳng phế thải của mình xuống dưới biển.
+ Thay vào đó là chi chít hàng quán, biển hiệu rối rắm, như một thị trấn vô hồn bất kỳ nào khác. (xem lại giúp tớ cái này nhé)
- Biện pháp nhân hóa:
+ Tâm hồn và cá tính của hòn đảo đang biến mất dần.
+ Tác dụng: Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng đa dạng, phong phú đã nói lên những tác hại ghê gớm của du lịch đối với cảnh quan tự nhiên, với bản sắc văn hóa của các vùng miền.
Câu 4:
Du lịch bị xem là một ngành công nghiệp toàn cầu tàn bạo vì:
- Du lịch hứa hẹn thu nhập và việc làm cho bên chủ nhà, và các trải nghiệm để đời cho bên khách nhưng cùng lúc đó có sức tàn phá khủng khiếp với môi trường, văn hóa và cộng đồng.
- Du lịch làm biến mất cá tính riêng và bản sắc tâm hồn của các địa phương.
- Du lịch phá hoại quang cảnh thiên nhiên, biến một thiên đường nhiệt đới tự nhiên thành một thiên đường bê tông nhân tạo.
- Các nghi lễ tôn giáo, những bản sắc dân tộc trở thành sản phẩm tiêu dùng, nhằm phục vụ nhu cầu của khách du lịch.
=> Du lịch biến các địa phương thành: vô bản sắc, ô hợp, nhân tạo và rẻ tiền.
II. Làm văn
Câu 1:
* Giới thiệu vấn đề.
* Giải thích vấn đề.
- Sử dụng lối nói hình ảnh con ngỗng vàng (tiềm năng, lợi ích du lịch mang lại) với con quái vật (tác hại, mặt trái của ngành công nghiệp du lịch), tác giả bài viết đã nói lên nguy cơ của ngành du lịch có thể từ chỗ là ngành công nghiệp tiềm năng, mang lại lợi nhuận kinh tế cao đến chỗ nếu khai thác không phù hợp sẽ dẫn đến những hậu quả nặng nề về tự nhiên, văn hóa.
* Bàn luận vấn đề
- Những lợi ích mà du lịch đem lại:
+ Tạo việc làm cho người lao động.
+ Đem lại nguồn lợi kinh tế cho địa phương và đất nước.
- Mặt trái của ngành du lịch:
+ Xả rác bừa bãi, ô nhiễm môi trường
Dẫn chứng: ở Thái Lan luôn tự hào mở cửa cho ngành du lịch với giá dịch vụ hấp dẫn, rẻ nhưng bù vào đó là sự hi sinh của môi trường. Vì kinh doanh giá rẻ nên tất yếu sẽ phải sử dụng bao bì ni lông, hậu quả là cống rảnh, sông suối luôn ngập rác thải, làm chết các sinh vật,…
+ Cảnh quan thiên nhiên bị tàn hủy nghiêm trọng .
Dẫn chứng: ở các khu du lịch tự nhiên ta dễ dàng nhận thấy các con đường đất đá dần được bê tông hóa, quá trình này đã tàn phá nghiêm trọng cảnh quan tự nhiên. Đồi núi bị cắt xẻ làm các tòa nhà cao tầng phục vụ khách du lịch.
+ Bản sắc văn hóa của các vùng miền bị biến đổi, nhằm phụ vụ nhu cầu của khách du lịch. Nền văn hóa bản địa đặc trưng đúc kết qua nhiều ngàn năm bỗng chốc biến thành dịp lễ hội dân tộc thuần túy theo nhu cầu của du khách. Người ta cố sức cải biên những bản sắc dân gian cổ truyền sao cho thật “hợp khẩu vị” người ngoại quốc.
Dẫn chứng: Sapa được biết đến là một thị trấn đẹp, giàu bản sắc của các dân tộc: H-mông, Tày, Giao Đỏ, Xá Phó,.. tất cả các dân tộc này đã tạo nên nét bản sắc của vùng. Nhưng với sự phát triển của du lịch nét bản sắc ngày càng bị tha hóa, biến chất.
+ Những nét văn hóa đạo đức, lối sống của con người bị hủy hoại
Dẫn chứng: trẻ em ở Sa Pa hay rất nhiều vùng du lịch khác như một lẽ thường lệ, sáng đến chúng đứng dọc các điểm du lịch và chờ nhận quà, nhận kẹo của những người tham quan. Những ông bố bà mẹ ra sức lôi kéo khách hàng.
- Biện pháp:
+ Thắt chặt quản lí du lịch, hạn chế người đến du lịch hàng năm, điều nay đã được chính phủ Bhutan thực thi để đảm bảo cảnh quan thiên nhiên được bảo vệ an toàn, giữ được những nét đẹp nguyên sơ của nó.
+ Khai thác cảnh quan thiên nhiên hợp lý, có những biện phạp xử lí nghiêm minh với những tổ chức cố tình phá hoại cảnh quan thiên nhiên.
+ Giữ vững những nét đẹp văn hóa truyền thống.
Câu 2:
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
* Giới thiệu về tác giả Nam Cao, tác phẩm Chí Phèo và kết thúc truyện Chí Phèo.
- Nam Cao là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Những sáng tác của ông xoay quanh đề tài về người trí thức nghèo và người nông dân nghèo.
- Chí Phèo là truyện ngắn tiêu biểu cho những sáng tác của tác giả. Chí Phèo nguyên có tên là Cái lò gạch cũ, khi in thành sách lần đầu năm 1941, Nhà xuất bản tự đổi tên thành Đôi lứa xứng đôi. Đến khi in lại trong tập Luống cày(1946), Nam Cao đặt tên lại là Chí Phèo.
- Truyện ngắn Chí Phèo kết thúc bằng hình ảnh: “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người qua lại”. Đây là một kết thúc gợi ra rất nhiều suy ngẫm với người đọc.
* Giới thiệu về tác giả Kim Lân, tác phẩm Vợ nhặt và kết thúc truyện Vợ nhặt.
- Kim Lân là cây bút có sở trường về truyện ngắn. Ông chuyên viết về nông thôn và đời sống của người dân nghèo với ngòi bút đôn hậu và hóm hỉnh.
- Vợ nhặt là truyện ngắn tiêu biểu của Kim Lân. Truyện được in trong tập Con chó cấu xí (1962). Vợ nhặt kết thúc bằng hình ảnh “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới. Đây cũng là một kết thúc đặc sắc, gợi ra được chủ đề, tư tưởng của tác phẩm.
2. Thân bài
2.1. Ý nghĩa kết thúc của truyện ngắn Chí Phèo:
* Khái quát nội dung truyện ngắn và cuộc đời của nhân vật Chí Phèo:
- Truyện kể về cuộc đời Chí Phèo, một đứa trẻ bị bỏ rơi vô thừa nhận.
- Chí Phèo được người làng nhặt về nuôi, đến năm 20 tuổi làm canh điền cho nhà Bá Kiến. Vì ghen tuông, Bá Kiến đẩy Chí Phèo vào tù.
- Sau bảy, tám năm ở tù về, từ một người hiền lành, lương thiện, Chí thành con quỹ dữ làm tay sai cho Bá Kiến gây bao tội ác cho dân làng.
- Sau khi gặp thị Nở, bản chất lương thiện trong Chí trỗi dậy. Chí mong muốn thị giúp mình trở lại cuộc sống bình thường nhưng không được vì bị thị Nở cự tuyệt.
- Quá đau đớn, phẫn uất; Chí Phèo đến nhà Bá Kiến, giết hắn và tự kết liễu đời mình.
=> Cuộc đời của Chí từ một người nông dân hiền lành, lương thiện đã bị tha hóa, bị hủy hoại cả nhân hình lẫn nhân tính, trở thành “con quỷ của làng Vũ Đại”. Cuối cùng sau bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, Chí Phèo đã tự kết liễu đời mình.
* Ý nghĩa đoạn kết với hình ảnh “cái lò gạch cũ”
- Cái lò gạch cũ vốn là nơi Chí Phèo bị bỏ rơi lúc mới sinh. Và giờ đây khi Chí vừa chết, hình ảnh này lại xuất hiện trong đầu của thị Nở ở phần kết thúc gợi ra sự quẩn quanh, bế tắc trong tấn bi kịch tha hóa và bị cự tuyệt quyền làm người của người nông dân.
- Kết thúc truyện thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn: đồng cảm với nỗi thống khổ của người nông dân dưới ách thống trị tàn bạo của bọn địa chủ phong kiến, trân trọng khát vọng được sống lương thiện của họ.
- Truyện kết thúc bằng cách lặp lại hình ảnh ở phần mở đầu tạo nên kết cấu đầu cuối tương ứng gợi ra vòng tròn luẩn quẩn cuả thân phận Chí Phèo hay chính là thân phận của những người nông dân nghèo trong xã hội đó đồng thời giúp tô đậm dự báo về tương lai: cuộc đời Chí Phèo tuy đã kết thúc nhưng rất có thể vẫn còn những tấn bi kịch Chí Phèo vẫn sẽ còn tiếp diễn.
2.2. Ý nghĩa của kết thúc truyện ngắn Vợ nhặt
* Khái quát nội dung truyện ngắn và cuộc đời nhân vật Tràng:
- Cái đói tràn về làm xơ xác, tiêu điều cả xóm ngụ cư.
- Vào một buổi chiều, Tràng – một người nông dân xóm ngụ cư thô kệch và xấu xí đã dẫn theo một người phụ nữ về nhà. Người phụ nữ bằng lòng với sính lễ là bốn bát bánh đúc.
- Mẹ Tràng đón nhận người con dâu trong tâm trạng vừa buồn vừa mừng lại có cả lo âu.
- Đêm tân hôn của họ diễn ra trong không khí chết chóc, tủi sầu của xóm ngụ cư.
- Sáng hôm sau, những thay đổi diễn ra trong tâm lí của Tràng và của cả cô vợ nhặt. Bà mẹ đã đãi hai con một nồi chè cám.
- Trong lúc ăn, qua lời kể của vợ, Tràng dần dần hiểu ra được Việt Minh là ai và trong đầu hiện lên hình ảnh người đói kéo nhau đi phá khó thóc của Nhật, phía trước là lá cờ đỏ bay phấp phới.
* Ý nghĩa đoạn kết với hình ảnh lá cờ bay phấp phới:
- Hình ảnh “đám người đói và lá cờ đỏ” hiện lên trong tâm trí Tràng vừa gợi ra cảnh ngộ đói khát thê thảm vừa gợi ra những tín hiệu của cuộc cách mạng, cả hai đều là những nét chân thực trong bức tranh đời sống lúc bấy giờ.
---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 3 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
Trên đây là một phần trích đoạn nội dung Bộ 3 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 Trường THPT Phan Bội Châu. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo hữu ích khác các em chọn chức năng xem online hoặc đăng nhập vào trang Hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.
Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học sinh ôn tập tốt và đạt thành tích cao trong học tập.
Chúc các em học tập tốt !



