Xin gửi đến các em học sinh lớp 12 tài liệu Bộ 3 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 trường THPT Pró đã được Học247 sưu tầm và chọn lọc dưới đây, tài liệu được biên soạn nhằm giúp các em củng cố kiến thức môn Ngữ văn để chuẩn bị tốt nhất cho kì thi sắp tới.
|
TRƯỜNG THPT PRÓ |
ĐỀ THI THỬ THPT QG MÔN: NGỮ VĂN NĂM HỌC: 2021 (Thời gian làm bài: 120 phút) |
ĐỀ SỐ 1
Đọc văn bản sau và thực hiện theo yêu cầu:
Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn. Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn.
Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Cũng ít có loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng. Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết. Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã… Cứ thế hai ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng…
Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời.
(Trích Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành)
Câu 1. Nêu những ý chính của văn bản. (1.0 điểm)
Câu 2. Tác giả đã biểu lộ thái độ gì khi nói đến hình ảnh cây xà nu? (1.0 điểm)
Câu 3. Xác định và nêu tác dụng của phép so sánh, nhân hóa trong những câu sau: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn.” (2.0 điểm)
Câu 4. Câu văn “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời” gợi những liên tưởng gì? (2.0 điểm)
Câu 5. Trong phần mở đầu tác phẩm có chi tiết: “Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời”. Kết thúc tác phẩm chi tiết ấy được lăp lại một lần nữa: “Ba người đứng ở đấy nhìn ra xa. Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài nhũng rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời. ”
Hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ cảm nhận hai chi tiết trên. (4.0 điểm)
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ
Câu 1:
Nêu những ý chính của văn bản:
- Rừng xà nu bị tàn phá trong bom đạn của kẻ thù.
- Rừng xà nu mạnh mẽ, kiên cường vươn lên bất chấp bom đạn tàn phá.
Câu 2:
Tác giả đã biểu lộ thái độ gì khi nói đến hình ảnh cây xà nu:
- Xót xa trước hình ảnh rừng xà nu bị tàn phá.
- Tự hào trước sức sống mãnh liệt của cây xà nu.
Câu 3:
Xác định và nêu tác dụng của phép so sánh, nhân hóa trong những câu sau: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn. ”
- So sánh: đổ ào ào như một trận bão (0.5); hình ảnh sinh động, cụ thể nhằm khắc họa rõ nét hình ảnh cây xà nu bị hủy diệt hàng loạt.(0.5)
- Nhân hóa: bị thương, thân mình, vết thương, bầm lại, cục máu (0.5); hình ảnh sinh động, gần gũi nhằm khắc họa rõ nét nỗi đau của cây xà nu cũng là nỗi đau của dân làng Xô-man (0.5).
Câu 4:
Câu văn “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời” gợi những liên tưởng gì?
- Thế hệ dân làng Xô-man nối tiếp nhau nhanh chóng trưởng thành trong khói lửa chiến tranh, thế hệ này ngã xuống đã có thế hệ sau tiếp nối.
- Tinh thần kiên cường, bất khuất của dân làng Xô-man.
---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 1 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
ĐỀ SỐ 2
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
“Có một chàng thanh niên đứng giữa thị trấn và tuyên bố mình có trái tim đẹp nhất vì chẳng hề có một tì vết hay rạn nứt nào. Đám đông đều đồng ý đó là trái tim đẹp nhất mà họ từng thấy. Bỗng một cụ già xuất hiện và nói: "Trái tim của anh không đẹp bằng trái tim tôi!". Chàng trai cùng đám đông ngắm nhìn trái tim của cụ. Nó đang đập mạnh mẽ nhưng đầy những vết sẹo. Có những phần của tim đã bị lấy ra và những mảnh tim khác được đắp vào nhưng không vừa khít nên tạo một bề ngoài sần sùi, lởm chởm; có cả những đường rãnh khuyết vào mà không hề có mảnh tim nào tram thay thế. Chàng trai cười nói:
- Chắc là cụ nói đùa! Trái tim của tôi hoàn hảo, còn của cụ chỉ là những mảnh chắp vá đầy sẹo và vết cắt.
- Mỗi vết cắt trong trái tim tôi tượng trưng cho một người mà tôi yêu, không chỉ là những cô gái mà còn là cha mẹ, anh chị, bạn bè... Tôi xé một mẩu tim mình trao cho họ, thường thì họ cũng sẽ trao lại một mẩu tim của họ để tôi đắp vào nơi vừa xé ra. Thế nhưng những mẩu tim chẳng hoàn toàn giống nhau, mẩu tim của cha mẹ trao cho tôi lớn hơn mẩu tôi trao lại họ, ngược lại với mẩu tim của tôi và con cái tôi. Không bằng nhau nên chúng tạo ra những nếp sần sùi mà tôi luôn yêu mến vì chúng nhắc nhở đến tình yêu mà tôi đã chia sẻ. Thỉnh thoảng tôi trao mẩu tim của mình nhưng không hề được nhận lại gì, chúng tạo nên những vết khuyết. Tình yêu đôi lúc chẳng cần sự đền đáp qua lại. Dù những vết khuyết đó thật đau đớn nhưng tôi vẫn luôn hy vọng một ngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ, lấp đầy khoảng trống mà tôi luôn chờ đợi.
Chàng trai đứng yên với giọt nước mắt lăn trên má. Anh bước tới, xé một mẩu từ trái tim hoàn hảo của mình và trao cho cụ già. Cụ già cũng xé một mẩu từ trái tim đầy vết tích của cụ trao cho chàng trai. Chúng vừa nhưng không hoàn toàn khớp nhau, tạo nên một đường lởm chởm trên trái tim chàng trai. Trái tim của anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết vì tình yêu từ trái tim của cụ già đã chảy trong tim anh...”
(Dẫn theo songdep.xitrum.net)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản?
Câu 2. Nêu chủ đề của văn bản trên? Đặt nhan đề cho văn bản?
Câu 3. Trong cuộc sống, có phải lúc nào ước mong của cụ già về “một ngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ, lấp đầy khoảng trống mà tôi luôn chờ đợi” đều trở thành hiện thực hay không?
Câu 4. Hãy nêu quan niệm riêng của anh/chị về một trái tim hoàn hảo?
II. PHẦN LÀM VĂN: (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan niệm trong văn bản ở phần Đọc hiểu:“Tình yêu đôi lúc chẳng cần sự đền đáp qua lại”.
Câu 2. (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh/ chị về hình ảnh bát cháo hành của Thị Nở trong truyện Chí Phèo (Nam Cao) và nồi cháo cám của bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt (Kim Lân).
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 2
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
1
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: tự sự 0,5
2
- Chủ đề của văn bản: Trái tim của con người chỉ có thể đẹp nhất khi đó là trái tim biết yêu thương và san sẻ yêu thương.
- Nhan đề cho văn bản: Trái tim hoàn hảo; Trái tim đẹp nhất...
3
Trong đời sống, không hẳn lúc nào ước muốn “một ngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ, lấp đầy khoảng trống mà tôi luôn chờ đợi” của cụ già đều trở thành hiện thực. Bởi lẽ, trái tim hoạt động theo cơ chế riêng của nó, không ai có thể ép buộc hay khuyên nhủ, chỉ khi trái tim thấy yêu thương thì nó mới san sẻ. 1.0
4
Nêu quan niệm của bản thân và cơ sở của quan niệm đó: (Thí sinh có thể đưa ra quan niệm phù hợp với yêu cầu của đề).
Ví dụ: Theo tôi, một trái tim hạnh phúc là một trái tim biết yêu thương và được yêu thương. Là khi trái tim ấy trao đi và nhận lại một phần tương ứng. Nhưng nếu không được như vậy, một trái tim bao dung sẽ vẫn thấy hạnh phúc vì nó sẽ nhận lại được sự bù đắp từ những trái tim nhân hậu và đồng cảm khác.
II. PHẦN LÀM VĂN: (7,0 điểm)
Câu 1:
Yêu cầu chung
- Viết đúng hình thức 01 đoạn văn (200 chữ).
- Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã hội để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
b. Yêu cầu cụ thể
Đảm bảo cấu trúc đoạn nghị luận 0,25
* Giải thích:
Tình yêu là bản chất của trái tim con người. Tình yêu là sự trao và nhận yêu thương, sự quan tâm ân cần. Tình yêu có biết bao nhiêu cung bậc, thường thì khi trao tình yêu người ta mong được đáp lại. Nhưng tình yêu không hẳn lúc nào cũng công bằng như thế, có người trao đi và không nhận lại. Vì người ta trao đi và không cần được đáp lại.
* Bàn luận:
- Tại sao lại có người chỉ trao tình yêu mà không cần nhận lại?
+ Vì trái tim hoạt động theo qui luật của riêng nó, không phụ thuộc vào lí trí, nên đôi khi người trao biết là không thể ép buộc sự đền đáp của tình yêu.
+ Vì có những tình yêu cao thượng không trông chờ sự đáp lại.
Ví dụ: Tình cảm yêu thương bố mẹ trao cho con cái; tình cảm ân cần, sẻ chia dành cho những người có hoàn cảnh khó khăn...
- Tuy nhiên, tình cảm cần chân thành, phù hợp. Có những tình cảm cần từ hai phía như tình yêu nam nữ, tình bạn. Nếu chỉ có một bên trao thì không thể có một tình cảm đẹp.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Cần biết trân trọng tình cảm của mọi người dành cho mình.
+ Bồi dưỡng tâm hồn, trái tim để biết yêu thương, sẻ chia mà không phải lúc nào cũng cần được đáp lại.
Câu 2:
Cảm nhận của anh/chị về hình ảnh bát cháo hành của Thị Nở trong truyện Chí Phèo (Nam Cao) và nồi cháo cám của bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt (Kim Lân). 5.0
A. Yêu cầu chung
- Viết đúng hình thức 01 bài văn.
- Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
B. Yêu cầu cụ thể
b1
Khái quát chung
- Giới thiệu Nam Cao, truyện Chí Phèo và chi tiết bát cháo hành.
- Giới thiệu Kim Lân, truyện Vợ nhặt và chi tiết nồi cháo cám.
b2 Cảm nhận 4.0
1. Hình ảnh bát cháo hành: 1,5
* Sự xuất hiện: Hình ảnh này xuất hiện ở phần giữa truyện. Chí say rượu, gặp Thị Nở ở vườn chuối. Khung cảnh hữu tình của đêm trăng đã đưa đến mối tình Thị Nở - Chí Phèo. Sau hôm đó, Chí bị cảm, Thị Nở thương tình đã về nhà nấu cháo hành mang sang cho hắn. 0,25
* Về nội dung:
+ Hình ảnh bát cháo hành thể hiện tình yêu thương của Thị Nở dành cho Chí.
+ Là hương vị của hạnh phúc, tình yêu muộn màng mà lần đầu tiên Chí được hưởng.
+ Là liều thuốc giải cảm và giải độc tâm hồn Chí: gây ngạc nhiên, xúc động mạnh, khiến nhân vật ăn năn, suy nghĩ về tình trạng thê thảm hiện tại của mình. Nó khơi dậy niềm khao khát được làm hoà với mọi người, hi vọng vào một cơ hội được trở về với cuộc sống lương thiện. Như vậy, bát cháo hành đã đánh thức nhân tính bị vùi lấp lâu nay ở Chí.
* Về nghệ thuật:
+ Là chi tiết rất quan trọng thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, khắc họa sâu sắc nét tính cách, tâm lí và bi kịch của nhân vật.
+ Góp phần thể hiện sinh động tư tưởng Nam Cao: tin tưởng vào sức mạnh cảm hoá của tình người.
2. Hình ảnh nồi cháo cám: 1.5
* Sự xuất hiện: Hình ảnh này xuất hiện ở cuối truyện, trong bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới của gia đình bà cụ Tứ.
* Về nội dung:
- Đối với gia đình Tràng, nồi cháo cám là món ăn xua tan cơn đói, là món ăn duy nhất của bữa tiệc cưới đón nàng dâu mới về. Qua đó, tác giả đã khắc sâu sự nghèo đói, cực khổ và rẻ mạt của người nông dân trong nạn đói 1945.
- Qua chi tiết nồi cháo cám, tính cách của nhân vật được bộc lộ:
+ Bà cụ Tứ gọi cháo cám là ” hè khoán”, bà vui vẻ, niềm nở, chuyện trò với các con. Ở bà hiện lên hình ảnh người mẹ nhân hậu, thương con, và có tinh thần lạc quan. Nồi cháo cám là nồi cháo của tình thân, tình người, niềm tin và hy vọng. Trong hoàn cảnh đói kém, mẹ con Tràng dám cưu mang, đùm bọc thị, chia sẻ sự sống cho thị. Bà cụ Tứ nói toàn chuyện vui, đem nồi cháo cám ra đãi nàng dâu vốn để làm không khí vui vẻ hơn.
+ Vợ Tràng đã có sự thay đổi về tính cách. Hết sức ngạc nhiên trước nồi cháo cám nhưng người con dâu mới vẫn điềm nhiên và vào miệng để làm vui lòng mẹ chồng. Chứng tỏ, Thị không còn nét cách chỏng lỏn như xưa nữa mà đã chấp nhận hoàn cảnh, đã thực sự sẵn sàng cùng gia đình vượt qua những tháng ngày khó khăn sắp tới.
* Về nghệ thuật: Chi tiết góp phần bộc lộ tính cách các nhân vật, thể hiện tài năng của tác giả Kim Lân trong việc lựa chọn chi tiết trong truyện ngắn.
3. Điểm tương đồng, khác biệt: 1.0
- Tương đồng:
+ Cả 2 hình ảnh đều là biểu tượng của tình người ấm áp.
+ Đều thể hiện bi kịch của nhân vật và hiện thực xã hội: Ở Chí Phèo là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, bát cháo hành rất bình di, thậm chí là nhỏ bé, tầm thường nhưng đó là lần đầu tiên Chí được cho mà không phải đi cướp giật. Ở Vợ nhặt, số phận con người cũng trở nên rẻ mạt.
+ Đều thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc, cái nhìn tin tưởng vào sức mạnh của tình yêu thương con người của các nhà văn.
- Khác biệt:
+ Bát cháo hành: biểu tượng của tình thương mà thị Nở dành cho Chí Phèo nhưng xã hội đương thời đã cự tuyệt Chí, đẩy Chí vào bước đường cùng. Qua đó, chúng ta thấy bộ mặt tàn bạo, vô nhân tính của xã hội thực dân nửa phong kiến cũng như cái nhìn bi quan, bế tắc của nhà văn Nam Cao.
+ Nồi cháo cám: biểu tượng tình thân, tình người, niềm tin và hy vọng vào phẩm chất tốt đẹp của người dân lao động trong nạn đói. Sau bát cháo cám, mọi người nói chuyện về Việt Minh. Qua đó, thức tỉnh ở Tràng khả năng cách mạng. Như vậy ở Kim Lân có cái nhìn lạc quan, đầy tin tưởng vào sự đổi đời của nhân vật, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
---(Để xem tiếp đáp án phần Làm văn vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
ĐỀ SỐ 3
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích dưới đây:
Trong tiếng Anh, cộng hưởng là “together”. Để dễ nhớ, bạn có thể chiết tự nó thành ba chữ “to get there”, nghĩa là cùng đến đích. Trên thực tế, nếu bạn biết kết hợp mọi nguồn lực xung quanh hoặc biết tạo nên sự cộng hưởng bên trong mình thì nhất định bạn sẽ đạt được mục tiêu đã đề ra.
Sức mạnh của một tập thể phụ thuộc vào động cơ gắn kết các thành viên trong đó. Nếu động cơ khuyến khích các thành viên tự nguyện hợp tác với nhau thì sức mạnh tập thể sẽ tồn tại lâu bền. Ngược lại, khi các thành viên ràng buộc nhau một cách miễn cưỡng, chắc chắn sức mạnh ấy chỉ mang tính tạm thời.
Hẳn bạn từng nghe câu chuyện ngụ ngôn về tay, chân, mắt, mũi, miệng. Vì tranh giành chức vị quan trọng nhất mà các bộ phận này đã bỏ rơi nhau. Chỉ đến khi tất cả cùng hết sức thì chúng mới nhận ra rằng, sự tồn tại của mình phụ thuộc vào sự tồn tại của các bộ phận khác, mỗi bộ phận tuy đóng vai trò riêng nhưng đều quan trọng như nhau.
Thật tuyệt vời nếu bạn biết kết hợp mọi nguồn lực bên trong để tạo nên sức mạnh cho riêng mình. Ý tưởng về sự cộng hưởng chính là ý tưởng về sự tiến bộ. Khi bạn tập trung mọi nguồn lực của mình vào một việc gì đó, nghĩa là bạn đã sẵn sàng tiến về phía trước. Sự cộng hưởng không những giúp tập thể đoàn kết hơn mà còn có khả năng giúp con người tăng cường sức mạnh của chính bản thân họ. Đây chính là một trong những yếu tố căn bản giúp con người đạt được thành công như mong muốn.
Hãy kết hợp mọi nội lực trong con người bạn cũng như với mọi người xung quanh. Hãy ghi nhớ:
Cộng hưởng nghĩa là cùng đến đích!
(Không gì là không thể, George Matthew Adams)
Thực hiện các yêu cầu:
1. Theo tác giả, cộng hưởng là gì? Có mấy loại cộng hưởng?
2. Sự cộng hưởng có những lợi ích nào?
3. Theo anh/ chị, mục đích của việc kể câu chuyện ngụ ngôn về tay, chân, mắt, mũi, miệng là gì?
4. Anh/ chị có đồng tình với quan điểm “Sự cộng hưởng không những giúp tập thể đoàn kết hơn mà còn có khả năng giúp con người tăng cường sức mạnh của chính bản thân họ” không? Vì sao?
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 ĐIỂM)
Câu 1 (2.0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về ý kiến:
“Sức mạnh của một tập thể phụ thuộc vào động cơ gắn kết các thành viên trong đó”.
Câu 2 (5,0 điểm)
Trong đêm đông giải cứu A Phủ (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài), nhà văn Tô Hoài đã miêu tả hai phản ứng đối lập của nhân vật Mị khi thấy A Phủ bị trói đứng:
Lần đầu, lúc nhìn thấy A Phủ bị trói đứng, Mị “vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”.
Lần hai, lúc nhìn thấy “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ, Mị “chợt nhớ lại đêm năm trước, A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác”.
Từ việc phân tích tâm trạng nhân vật Mị qua hai phản ứng đối lập trên, anh/chị hãy làm nổi bật sự thay đổi của nhân vật này.
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 3
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
1
- Cộng hưởng là cùng đến đích.
- Có hai loại cộng hưởng: Cộng hưởng bên trong (kết hợp mọi nguồn lực bên trong mình) và cộng hưởng bên ngoài (kết hợp mọi nguồn lực xung quanh).
2
- Đạt được mục tiêu đã đề ra.
- Giúp sức mạnh tập thể tồn tại bền lâu, tạo tính đoàn kết.
- Giúp con người tăng cường sức mạnh của chính họ.
3
Thuyết phục người đọc về tác hại của việc không biết cộng hưởng 1.0
4
- Đồng ý/ không đồng ý.
- Lí do: Thí sinh có thể đưa ra nhiều lí do khác nhau, tùy vào mức độ hợp lí mà giám khảo cho điểm từ 0.25 đến 0.75đ.
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 ĐIỂM)
Câu 1:
a
Đảm bảo đúng yêu cầu về hình thức của một đoạn văn, có phần mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn. Phần mở đoạn giới thiệu được vấn đề; phần thân đoạn triển khai vấn đề; phần kết đoạn kết luận vấn đề.
b
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Sự cộng hưởng sức mạnh của các cá nhân tạo nên sức mạnh tập thể.
c
Triển khai vấn đề thành các ý chính sau:
- Giải thích: Ý kiến khẳng định muốn có một tập thể mạnh thì các cá nhân phải gắn kết, cộng hưởng với nhau.
- Sự gắn kết sức mạnh các thành viên có rất nhiều ý nghĩa:
+ Bù khuyết, hỗ trợ cho nhau, tạo nên sự hoàn hảo.
+ Tăng tình đoàn kết, yếu tố quan trọng đưa đến thành công.
+ Tạo nên sức mạnh tổng thể.
- Liên hệ bản thân, rút ra bài học về cách ứng xử trong tập thể.
d
Đảm bảo các yêu cầu về diễn đạt và có sáng tạo
Câu 2:
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề. 0.25
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tâm trạng của nhân vật Mị qua hai phản ứng đối lập khi chứng kiến cảnh A Phủ bị trói đứng. 0.25
c. Triển khai vấn đề cần nghị luận thành nhiều luận điểm. Thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (so sánh, phân tích) kết hợp với nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng
* Giới thiệu: Tác giả, tác phẩm, nhân vật. 0.5
* Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị qua hai lần phản ứng đối lập khi thấy A Phủ bị trói đứng: Thí sinh trình bày khái quát nguyên nhân khiến A Phủ bị trói
- Lần đầu: Mị ở trong trạng thái vô cảm, tâm hồn Mị như tê dại trước mọi chuyện: thản nhiên ngồi thổi lửa hơ tay, Mị mất luôn cả cái tình thương người mà bất cứ ai ở người phụ nữ nào cũng có.
- Lần hai: Khi nhìn thấy dòng nước mắt chảy xuống hai hõm má của A Phủ:
+ Tâm trạng Mị sau đó từ vô cảm đến đồng cảm: Nhớ đến cảnh ngộ của mình, của người đàn bà năm trước.
+ Mị nhận thức rõ và căm thù sự độc ác của nhà thống lí Pá Tra.
+ Từ lòng thương người và lòng căm thù, Mị nhận ra sự độc ác và bất công.
+ Mị lo sợ, hốt hoảng tưởng tượng khi A Phủ trốn được, lúc đó bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị cởi trói. Nhưng nỗi sợ như đã tiếp thêm sức mạnh cho Mị hành động. Lòng thương người trong Mị đã lớn hơn tất cả mọi nỗi sợ hãi: Hành động cởi trói cho A Phủ.
=> Trong Mị tiềm tàng sức sống, sức phản kháng mãnh liệt: Chạy theo A Phủ.
- Nhận xét:
+ Sự vô cảm của Mị trong lần đầu tiên chứng kiến cảnh A Phủ bị trói là kết quả của sự đày đọa về mặt tinh thần mà Mị phải gánh chịu khi phải sống trong cảnh làm dâu gạt nợ ở nhà thống lí Pá Tra.
+ Chính dòng nước mắt của A Phủ đã đánh thức và làm hồi sinh lòng thương người trong Mị. Làm cho sức sống tiềm tàng trong Mị được trỗi dậy.
---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 3 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
Trên đây là một phần trích đoạn nội dung Bộ 3 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 Trường THPT Pró. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo hữu ích khác các em chọn chức năng xem online hoặc đăng nhập vào trang Hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.
Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học sinh ôn tập tốt và đạt thành tích cao trong học tập.
Chúc các em học tập tốt !



