Tôn vinh những nghề cao quý
Tôn vinh những nghề cao quý
Tôn vinh những người lao động làm giàu cho đất nước
Giúp mình với, mình cần gấp!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
Trả lời (2)
-
Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo là nét đẹp văn hoá ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Truyền thống ấy thể hiện bằng thành tích học tập, tình cảm, sự kính trọng, lòng biết ơn của lớp lớp thế hệ học trò giành cho người thầy và còn được đúc kết thành tục ngữ, thành ngữ lưu giữ suốt chiều dài lịch sử dân tộc: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”; “Không thầy đố mày làm nên”; “Muốn sang thì bắc cầu Kiều/Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy”… để tỏ lòng trân trọng, thành kính của xã hội dành cho nhà giáo. Vì vậy, ngày Nhà giáo Việt Nam (hay ngày Hiến chương Nhà giáo Việt Nam) được tổ chức hằng năm vào ngày 20 tháng 11 không chỉ là dịp để Ngành Giáo dục tôn vinh những người hoạt động trong ngành, học trò thể hiện lòng thành kính “tôn sư trọng đạo” mà còn là dịp để xã hội tôn kính, tri ân những người đã, đang gắn bó với nghề dạy học – “Nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo”.

Những người làm “Nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý…” từ xưa đến nay dù ít tuổi hay cao tuổi, dù khoa bảng hay chỉ là thầy đồ đều được nhân dân kính trọng, tôn quý, vị nể và được ví như “cây thông trên sườn núi, cây quế giữa rừng sâu thầm lặng toả hương dâng hiến trí tuệ, sức lực cho đời”. Người thầy mọi thời đại đều xác định nghề của mình là một nghề cao quý, thiêng liêng và luôn coi đối tượng lao động của mình là nhân cách, tâm hồn, thể chất con người nói chung và của một thế hệ nói riêng. Công cụ lao động của nghề dạy học chủ yếu bằng bản thân con người – toàn bộ nhân cách của thầy. Phương pháp lao động của người thầy là phương pháp nêu gương, cảm hoá đối tượng bằng tư tưởng, tình cảm, tri thức của mình… để tạo ra “sản phẩm” vừa uyên thâm về tri thức, vừa thấu hiểu đạo lý làm người. Sản phẩm đó không giống như chiếc áo của anh thợ may, chiếc bàn của anh thợ mộc hay một vật dụng cụ của một người thợ nào khác mà chính là con người. Con người có ý thức, con người biết vận dụng tri thức kỹ năng, kỹ xảo và bắt nhịp với thời đại. Con người độc lập, tự chủ và sáng tạo. Con người theo đúng nghĩa – “tâm, tài, tầm”! Sản phẩm làm ra của người thầy không thể đem so sánh với bất kỳ nghề nào trong xã hội! Bởi, nếu những ngành nghề khác vẫn cho phép xảy ra khả năng có những sản phẩm phạm lỗi kỹ thuật thì nghề dạy học không thể và không bao giờ được phép tạo ra những sản phẩm bị lỗi để rồi “sản phẩm” đó trở nên vô dụng. Vì vậy, lao động của người thầy đòi hỏi phải hết sức cẩn trọng, khoa học, nghiêm túc, đặc biệt phải có một cái tâm trong sáng để tạo dựng nên nhân cách con người, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Trách nhiệm của người thầy đối với sự nghiệp “trồng người” là vô cùng lớn lao! Giáo sư Nguyễn Văn Lê từng viện dẫn lời một nhà tư tưởng nói về nghề dạy học: “Nếu người thợ kim hoàn làm hỏng một đồ vàng bạc thì anh ta có thể đem ra nấu lại. Nếu một viên ngọc quý bị hư thì có thể phá bỏ… Làm hư một con người là một tội lớn, một lỗi lầm lớn không thể nào chuộc được”.Tranh vẽ Nhà giáo Chu Văn An trong Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội)
Lịch sử dân tộc ta đã lưu danh những bậc thầy “đức cao vọng trọng” – tấm gương sáng ngời về cốt cách thanh cao; không bị cám dỗ bởi tiền tài và danh vọng. Tên tuổi những nhà giáo nổi tiếng ấy tuy không được ghi danh trong bảng vàng bia đá nhưng đã làm rạng danh nền giáo dục nước nhà, khắc sâu trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam và được lưu truyền mãi mãi. Dân tộc ta không bao giờ quên hình ảnh nữ nhà giáo đầu tiên vào thế kỷ XV là bà Ngô Chi Lan, quê ở Phù Lỗ, Kim Hoá, Sóc Sơn đã được vua Lê Thánh Tông mời vào cung dạy học. Thầy Đỗ Năng Tế là thầy giáo của hai Bà Trưng – những phụ nữ đầu tiên của dân tộc dựng cờ khởi nghĩa, chống lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Các thầy Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Thiếp, Lê Đình Diên, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Sinh Sắc… đều là những tấm gương tiêu biểu về nhân cách ngời sáng của người thầy mẫu mực, tài giỏi, ngay thẳng, cương trực, không màng danh lợi. Thầy Nguyễn Đình Chiểu còn được nhân dân ta mệnh danh là nhà giáo cầm bút đánh giặc: Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Bức tranh vẽ khắc họa hình ảnh Bác Hồ kính yêu thời dạy học tại Trường Dục ThanhBác Hồ luôn đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp trồng người
Lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã từng dạy học ở trường Dục Thanh – Phan Thiết. Dù thời gian thầy Thành dạy học ở đây rất ngắn nhưng đã khai sáng tâm hồn học trò về đạo lý, lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc qua mỗi bài giảng. Người cũng chính là người thầy đầu tiên truyền lý tưởng cộng sản, con đường cứu nước giải phóng dân tộc theo Chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường Cách mạng Tháng Mười Nga đến các thanh niên Việt Nam tại Quảng Châu – Trung Quốc. Các thế hệ học trò của thầy không những cùng thầy sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người thầy – Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kỳ vọng, tin tưởng vào thế hệ trẻ Việt Nam, vì vậy, trong lễ khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có trở nên vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ công học tập của các cháu”.
Tiếp tục con đường người thầy đã chọn, những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng Bí thư Trường Chinh… trước khi trở thành nhà lãnh đạo tài ba của đất nước đã từng làm nghề “ươm mầm xanh” ở một số trường học. Họ tiếp tục sự nghiệp mà người thầy vĩ đại của dân tộc để lại, không chỉ cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân viết nên những chiến công chói lọi ở thế kỷ XX mà còn từng bước đưa nền giáo dục nước nhà sánh vai cùng bạn bè năm châu. Nhà giáo Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Ngọc Ký… và biết bao tấm gương người thầy đã trở thành thần tượng, làm rung động triệu triệu trái tim, khối óc các thế hệ học sinh, sinh viên trong và ngoài nước. Họ đã cống hiến hết mình không chỉ cho sự nghiệp giáo dục mà còn cống hiến suốt cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, đưa dân tộc ta đến bến bờ vinh quang như hôm nay. Tên tuổi nhiều nhà giáo đã được dùng đặt tên cho các trường học, đường phố, công trình, giải thưởng của các cuộc thi và trở thành biểu tượng sáng ngời về trí tuệ, nhân cách người thầy!
Trong những cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, lớp lớp thầy giáo trẻ theo tiếng gọi của lý tưởng cách mạng cao đẹp đã ra trận, cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cùng các thế hệ cha anh viết nên bản hùng ca bất tử, khắc ghi tên mình vào trang sử vẻ vang của dân tộc. Ở lại hậu phương, các thế hệ người thầy tiếp tục truyền lửa đến học trò, để rồi từ bục giảng, chính các thầy cô lại nhen nhúm, khơi dậy lòng yêu nước, chí căm thù giặc, nuôi dưỡng lý tưởng sống cao đẹp cho nhiều thế hệ học sinh, sinh viên. Mỗi bài giảng của thầy như thôi thúc học trò tiếp bước cha anh, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, xếp bút nghiên lên đường “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, thực hiện lý tưởng cao đẹp “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Những người thầy cầm súng đã góp một phần không nhỏ tạo nên “dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”.
Đất nước hòa bình, thống nhất, vượt lên bao vất vả, lo toan của cuộc sống thường nhật, hình ảnh người thầy vẫn hiện lên sáng ngời, kiên trì thắp lửa, truyền đạt tri thức, sưởi ấm tâm hồn thế hệ tương lai với nghĩa cử cao đẹp “tất cả vì học sinh thân yêu”. Nhiều thầy, cô giáo đi theo tiếng gọi của Đảng, Nhà nước cũng là lương tâm, trách nhiệm đã từ bỏ cuộc sống đầy đủ vật chất chốn “đô hội”, không quản ngại nắng mưa, tình nguyện “cõng chữ lên non”, mang ánh sáng của con chữ đến với học sinh và kiến thức xây dựng kinh tế đến đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo giúp họ vượt lên rào cản hủ tục, thoát khỏi cái nghèo, cái đói. Họ là những người thầy kiên trì, miệt mài và tảo tần, quyết tâm mang “hạt” chữ lên đại ngàn để ươm trồng, tưới bằng những dòng nước hy vọng và niềm tin mãnh liệt vào tương lai thoát khổ, thoát nghèo của đồng bào ở vùng khó khăn nhất đất nước. Không ít các thế hệ giáo viên đã cống hiến và gắn bó cả quãng đời thanh xuân của mình ở vùng biên giới, hải đảo xa xôi và đã trở thành “hoa của núi rừng!”. Sự hy sinh thầm lặng của họ thật cao cả và đáng trân trọng biết bao!
Cả nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng ta coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu”, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển, trong đó vị trí người thầy được coi là nhân vật trung tâm của quốc sách ấy. Vì vậy, vị trí, vai trò, trọng trách của người thầy đối với nền giáo dục nước nhà càng hết sức quan trọng, quyết định trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực của đất nước cũng như hình ảnh, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Sứ mệnh của người thầy hôm nay vừa đảm đương trọng trách đào tạo ra nguồn nhân lực để phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững vừa góp phần không nhỏ vào quá trình hình thành nhân cách con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có tinh thần tự hào với truyền thống văn hoá, lịch sử ngàn năm của dân tộc. “Sản phẩm” của người thầy làm ra cũng chính là “vũ khí” bách chiến, bách thắng – nhân tố trọng yếu, cơ bản để bảo đảm an ninh, chính trị quốc gia trong quá trình hội nhập. Kỳ vọng lớn vào thế hệ người thầy, Nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân “mong các nhà giáo phát huy niềm tự hào về vị trí nghề nghiệp cao cả của mình, vừa cống hiến tốt nhất cho xã hội, đồng thời đóng góp trí tuệ của mình cho việc tiếp tục đổi mới nhanh, mạnh mẽ của hệ thống giáo dục nước nhà và nhà trường của chính mình, làm cho ngành giáo dục phát triển xứng đáng với niềm mong mỏi của nhân dân, của Đảng, Nhà nước và cũng là mong mỏi của chính các thầy, cô giáo”.Trước yêu cầu đòi hỏi của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục nước nhà, những cuộc vận động của ngành giáo dục trong thời gian qua như: “Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”, “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương sáng về tinh thần học tập và sáng tạo”… đã được xã hội hưởng ứng, nâng cao vị thế của ngành giáo dục. Các nhà giáo đều hiểu rằng ngoài kiến thức, nhân cách – tấm gương để thuyết phục học sinh và phụ huynh còn phải có lòng nhiệt huyết, tình thương và trách nhiệm – yếu tố quyết định chất lượng giáo dục của nước nhà. Do vậy, trước tác động lớn của thời kỳ hội nhập và mặt trái của cơ chế thị trường, những người thầy tâm huyết vẫn kiên định, vững vàng bản lĩnh, giữ vững cốt cách của nhà giáo. Ánh sáng của lương tri luôn rọi chiếu, cùng với ngọn lửa trí tuệ và tình yêu thương của người làm nghề “trồng người” đã luôn vun đắp cho người thầy vững tin vào“nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý”. Xã hội cảm phục và tự hào trước sự đóng góp, hy sinh to lớn của bao thế hệ thầy, cô giáo – người đã không quản khó khăn, gian khổ góp phần đào tạo nên những thế hệ người Việt Nam vừa “hồng”, vừa “chuyên” đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sự tri ân của xã hội với những người theo nghiệp làm “người chèo đò đưa khách qua sông!”, gắn bó với sự nghiệp “trồng người” là nét đẹp văn hoá truyền thống ngàn đời của dân tộc ta, góp phần bồi đắp và tô đậm truyền thống văn hóa “tôn sư trọng đạo” của dân tộc Việt Nam lên tầm cao mới. Mỗi dịp kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam ngày 20 tháng 11, trước sự quan tâm của toàn xã hội, niềm vui, hạnh phúc lại trào dâng, rạng ngời trên mỗi gương mặt thầy cô – điểm tựa tinh thần vững chắc, tiếp thêm sức mạnh, lòng yêu nghề và khát khao cống hiến của các thầy cô đối với sự nghiệp giáo dục. Đó là niềm vinh dự, tự hào về vị trí, vai trò của mình đối với sự nghiệp “trồng người”! Nhưng trách nhiệm cũng không kém phần lớn lao, nặng nề, trăn trở của mỗi người thầy: làm sao để hình ảnh người thầy mãi mãi là khuôn mẫu, chuẩn mực của xã hội, lời nói và hành động của thầy trở thành “khuôn vàng thước ngọc”, là tấm gương sáng để mọi thế hệ học trò học tập và noi theo, đồng thời để xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội: “Dưới ánh sáng mặt trời không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học”. “Nghề dạy học là một nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo”!
bởi Nguyễn Thủy Tiên
29/01/2019
Like (0) Báo cáo sai phạm -
Từ xưa đến nay, người làm nghề giáo thường được nhân dân kính trọng, tôn quý, vị nể. Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”.
Nghề giáo là một nghề đặc biệt, bởi, đối tượng lao động của người thầy chính là nhân cách, tâm hồn và thể chất con người; công cụ lao động của nghề dạy học, chủ yếu là bằng bản thân, là toàn bộ nhân cách của người thầy; phương pháp lao động của người thầy là phương pháp nêu gương, cảm hoá đối tượng bằng tư tưởng, tình cảm của mình… để tạo ra những “sản phẩm” đặc biệt - là những con người có ý thức, biết vận dụng tri thức, kỹ năng và bắt nhịp với thời đại, biết độc lập, tự chủ và sáng tạo.
Lịch sử dân tộc ta đã lưu danh những bậc thầy “đức cao vọng trọng” - tấm gương sáng ngời về cốt cách thanh cao, không bị cám dỗ bởi tiền tài và danh vọng. Tên tuổi những nhà giáo nổi tiếng ấy tuy không được ghi danh trong bảng vàng bia đá nhưng đã làm rạng danh nền giáo dục nước nhà, khắc sâu trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam và được lưu truyền mãi mãi.
Đó là bà Ngô Chi Lan, nữ nhà giáo đầu tiên vào thế kỷ XV được vua Lê Thánh Tông mời vào cung dạy học; là thầy Đỗ Năng Tế là thầy giáo của Hai Bà Trưng - những phụ nữ đầu tiên của dân tộc dựng cờ khởi nghĩa, chống lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc; là các thầy Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Sinh Sắc… những tấm gương tiêu biểu về nhân cách ngời sáng của người thầy mẫu mực, tài giỏi, ngay thẳng, cương trực, không màng danh lợi.
Lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cũng đã từng dạy học ở trường Dục Thanh - Phan Thiết. Qua các bài giảng, Người đã khai sáng tâm hồn học trò về đạo lý, lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc. Các thế hệ học trò của thầy không những cùng thầy sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Tiếp tục con đường người thầy đã chọn, những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng Bí thư Trường Chinh… trước khi trở thành nhà lãnh đạo tài ba của đất nước đã từng làm nghề “ươm mầm xanh” ở một số trường học. Không chỉ cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân viết nên những chiến công chói lọi ở thế kỷ XX mà còn từng bước đưa nền giáo dục nước nhà sánh vai cùng bạn bè năm châu.
Nhà giáo Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Ngọc Ký… và biết bao tấm gương người thầy đã trở thành thần tượng, làm rung động triệu triệu trái tim, khối óc các thế hệ học sinh, sinh viên trong và ngoài nước. Tên tuổi nhiều nhà giáo đã được dùng đặt tên cho các trường học, đường phố, công trình, giải thưởng của các cuộc thi và trở thành biểu tượng sáng ngời về trí tuệ, nhân cách người thầy.
Trong những cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, lớp lớp thầy giáo trẻ theo tiếng gọi của lý tưởng cách mạng cao đẹp đã ra trận, cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cùng các thế hệ cha anh viết nên bản hùng ca bất tử, khắc ghi tên mình vào trang sử vẻ vang của dân tộc. Ở lại hậu phương, các thế hệ người thầy tiếp tục truyền lửa đến học trò, để rồi từ bục giảng, chính các thầy cô lại khơi dậy lòng yêu nước, chí căm thù giặc, nuôi dưỡng lý tưởng sống cao đẹp cho nhiều thế hệ học sinh, sinh viên.
Đất nước hòa bình, thống nhất, vượt lên bao vất vả, lo toan của cuộc sống thường nhật, hình ảnh người thầy vẫn hiện lên sáng ngời, kiên trì thắp lửa, truyền đạt tri thức, sưởi ấm tâm hồn thế hệ tương lai với nghĩa cử cao đẹp “tất cả vì học sinh thân yêu”. Nhiều thầy, cô giáo đã không quản ngại nắng mưa, tình nguyện “cõng chữ lên non”, mang ánh sáng của con chữ đến với học sinh và kiến thức xây dựng kinh tế đến đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo giúp họ vượt lên rào cản hủ tục, thoát khỏi cái nghèo, cái đói.
Khi cả nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng ta coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu” vì vậy, vị trí, vai trò, trọng trách của người thầy càng hết sức quan trọng, quyết định trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực của đất nước cũng như hình ảnh, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Sứ mệnh của người thầy hôm nay vừa đảm đương trọng trách đào tạo ra nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững vừa góp phần không nhỏ vào quá trình hình thành nhân cách con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có tinh thần tự hào với truyền thống văn hoá, lịch sử ngàn năm của dân tộc.
* Từ ngày Quốc tế Hiến chương các nhà giáo đến ngày Nhà giáo Việt Nam
Tháng 7/1946, một tổ chức quốc tế các nhà giáo tiến bộ được thành lập ở Paris (thủ đô nước Pháp), lấy tên là FISE (Fédération Internationale Syndicale de Lenseignant - Liên đoàn quốc tế các công đoàn giáo dục).
Năm 1949, tại hội nghị Vacsava (thủ đô Ba Lan) tổ chức FISE xây dựng một bản "Hiến chương các nhà giáo" gồm 15 chương với nội dung chủ yếu là đấu tranh chống nền giáo dục tư sản, phong kiến, xây dựng nền giáo dục tiến bộ, bảo vệ những quyền lợi vật chất và tinh thần chính đáng của nghề dạy học và nhà giáo, đề cao trách nhiệm và vị trí của nghề dạy học và nhà giáo.
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, công đoàn giáo dục Việt Nam đã quan hệ với FISE để tranh thủ các diễn đàn quốc tế tố cáo âm mưu tội ác của bọn đế quốc xâm lược đối với nhân dân ta cũng như đối với giáo viên và học sinh, đồng thời giới thiệu những thành tích của nền giáo dục cách mạng, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của giáo giới trên toàn thế giới đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta.
Ngày 22/7/1951, công đoàn giáo dục Việt Nam được thành lập. Sau một thời gian ngắn, năm 1953, công đoàn giáo dục Việt Nam đã được kết nạp làm thành viên của FISE và được mời dự hội nghị của FISE ở Vienne (thủ đô Áo). Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn làm trưởng đoàn.
Từ 26 đến 30/8/1957, hội nghị FISE đã diễn ra tại thủ đô Vacsava với sự tham dự của 57 nước, trong đó có Việt Nam. Hội nghị đã thông qua bản Hiến chương các nhà giáo và quyết định lấy ngày 20/11 hàng năm là "Ngày quốc tế hiến chương các nhà giáo".
Ngày 20/11/1958, Ngày quốc tế Hiến chương các nhà giáo được tổ chức lần đầu tiên ở miền Bắc nước ta. Những năm sau đó, ngày này được tổ chức ở các vùng giải phóng ở miền Nam. Vào dịp kỷ niệm 20/11 hàng năm, cơ quan tiểu ban giáo dục thường xuất bản, phát hành một số tập san đặc biệt để cổ vũ tinh thần đấu tranh của giáo giới trong vùng tạm chiếm, động viên tinh thần chịu đựng gian khổ của anh chị em giáo viên kháng chiến.
Sau ngày đất nước thống nhất, các nhà giáo Việt Nam đoàn kết nhất trí xây dựng nền giáo dục theo đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngày 20/11 đã trở thành ngày truyền thống của các nhà giáo Việt Nam.
Ngày 28/9/1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 167-HĐBT, lấy ngày 20/11 làm ngày "Nhà giáo Việt Nam".
Mỗi dịp kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam ngày 20/11, trước sự quan tâm của toàn xã hội, niềm vui, hạnh phúc lại trào dâng, rạng ngời trên mỗi gương mặt thầy cô - điểm tựa tinh thần vững chắc, tiếp thêm sức mạnh, lòng yêu nghề và khát khao cống hiến của các thầy cô đối với sự nghiệp giáo dục.bởi Huất Anh Lộc (Epic's Minecraft)
31/07/2019
Like (0) Báo cáo sai phạm
Video HD đặt và trả lời câu hỏi - Tích lũy điểm thưởng
Nếu bạn hỏi, bạn chỉ thu về một câu trả lời.
Nhưng khi bạn suy nghĩ trả lời, bạn sẽ thu về gấp bội!
Lưu ý: Các trường hợp cố tình spam câu trả lời hoặc bị báo xấu trên 5 lần sẽ bị khóa tài khoản
Các câu hỏi mới
-
viết đoạn văn từ 5-7 câu nêu cảm nhận của em về biện pháp tu từ có vị chí nổi bật nhất trong bài thơ "mùa xuân nho nhỏ"
01/12/2022 | 0 Trả lời
-
Viết đoạn văn BIỂU CẢM về lợi ích của cây CÀ PHÊ.
04/12/2022 | 0 Trả lời
-
Em hãy viết bài văn kể lạu một trận thi đấu bóng rổ mà em ấn tượng nhất khi bắt đầu vào trường thcs(lớp 7)
07/12/2022 | 0 Trả lời
-
Em sẽ hành động như thế nào để "những tục lệ tốt đẹp ấy" và "những thức quý của đất mình" luôn có một vị trí quan trọng trong tâm hồn của người Việt? (Trả lời từ 3-5 câu)
Em đang cần gắp ạ!
11/12/2022 | 0 Trả lời
-
Đọc và trả lời câu hỏi:
Câu 1: Cảnh vật được miêu tả qua màu sắc nào trong bài thơ "Chiều sông thương".
18/12/2022 | 0 Trả lời
-
Viết đoạn văn khoảng 150 chữ giải thích câu ca dao :
"Trà Phú Hội, nước Mạch Bà
Sầu riêng An Lợi, chuối già Long Tân
Cá bụi sò huyết Pước An
Gạo thơm Phước Khánh, tôm càng Tam An"
19/12/2022 | 0 Trả lời
-
Giải giúp mình bài này nhé! Nêu những điểm cần chú ý về văn bản thông tin. TT
23/12/2022 | 0 Trả lời
-
sos . mọi người nhanh giúp mình với
28/12/2022 | 0 Trả lời
-
đề tài của lừa và ngựa
Giúp Em Vs
29/12/2022 | 0 Trả lời
-
'Một ngày nọ, con lừa của một ông chủ trang trại sẩy chân rơi xuống cái giếng. Con vật kêu la hàng giờ liền. Người chủ trang trại cố nghĩ xem nên làm gì. Cuối cùng, ông quyết định: con lừa đã già, dù sao cái giếng cũng cần được lấp lại và không ích lợi gì trong việc cứu con lừa lên cả.
Ông nhờ vài người hàng xóm sang giúp mình. Họ xúc đất đổ vào giếng.Ngay từ đầu lừa đã hiểu chuyện gì đang xảy ra và nó kêu la thảm thiết.Nhưng sau đó lừa trở nên im lặng.Sau một vài xẻng đất, ông chủ trang trại nhìn xuống và vô cùng sửng sốt.Mỗi khi bị một xẻng đất đổ lên lưng, lừa lắc mình cho đất rơi xuống và bước chân lên trên.Cứ như vậy, đất đổ xuống, lừa lại bước lên cao hơn.Chỉ một lúc sau, mọi người nhìn thấy chú lừa xuất hiện trên miệng giếng và lóc cóc chạy ra ngoài'.
Từ nội dung của phần đọc hiểu , em hãy viết đoạn văn ngắn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của mình về thông điệp được rút ra từ câu chuyên trên.
01/02/2023 | 0 Trả lời
-
Giải giúp mình bài này nhé! phần trên thui Câu 1 : Tìm những từ ngữ thể hiện thái độ của con mối và con kiến. Qua những từ ngữ ấy , tác giả muốn thể hiện điều gì? Câu 2 : Chỉ ra sự khác nhau trong hình thức kể chuyện của truyện Con mối và Con kiến với các chuyện Đèo cày giữa đường và Ếch ngồi đáy giếng. Câu 3 : Thủ pháp nào đc sd để lm nổi bật đặc điểm của hai con mối và kiến? Câu 4 : Hình ảnh con mối và con kiến để chỉ kiểu ng nào trong xã hội?
05/02/2023 | 0 Trả lời
-
bằng một đoạn văn khoảng 10 câu nêu cảm nhận của em về nhân vật ngụ ngôn mà em yêu thích
08/02/2023 | 0 Trả lời
-
Giải giúp mình bài này nhé! ai giỏi văn thì giúp mình nhé đừng lên gg ạ
19/02/2023 | 1 Trả lời
-
chỉ ra và nêu cách hiểu của em về các từ ngữ được dùng phép nói quá trong các câu sau :
1. " Nhớ đêm dài đi đất trời bốc lửa
Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng "
2. " Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây súng gửi trời "
3. " Gươm mài đá, đá cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn "
4. " Các bô lão là những kẻ quê mùa, chất phác, chưa bao giờ được bước chân vào nơi lầu son gác tía, chua bao giờ được bàn việc nước, thế mà nghe quan gia hỏi, họ đều nắm tay, gân mặt, khảng khái tâu lên : Xin đánh, trăm miệng một lời, làm rung chuyển cả một toàn điện Diên Hồng "
Liên quan đến biện pháp tu từ nói quá ạ, mong mọi người giúp mk ạ!
21/02/2023 | 0 Trả lời
-
lập dàn ý ghi lại cảm xúc bài thơ mẹ và quả nguyen khoa diem lớp 7 dàn ý chi tiết nha
văn học lớp 7
24/02/2023 | 0 Trả lời
-
22/03/2023 | 2 Trả lời
-
Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống( trình bày ý kiến phản đối )về các vấn đề của học sinh
26/03/2023 | 0 Trả lời
-
Tìm hiểu về Vẻ đẹp của cây tre và con người Việt Nam
30/03/2023 | 0 Trả lời
-
có gì mới ở phương tây
có ngày có đêm
có máu và nước mắt
có sói lang và những anh hùng
31/03/2023 | 3 Trả lời
-
Hãy nêu tất cả các văn bản thông tin từ lớp 6 đến lớp 7 sách Ngữ văn Kết nối tri thức
09/04/2023 | 0 Trả lời
-
Đọc phần Giới thiệu bài học trong SGK tr76 tập 2 KNTT và trả lời câu hỏi: Phát biểu suy luận của em về mối liên hệ giữa chủ đề bài học và loại văn bản chính cần đọc.
09/04/2023 | 0 Trả lời
-
Bài học sâu sắc nhất mà em rút ra từ phần văn bản Những câu chuyện của người thầy
23/04/2023 | 0 Trả lời
-
Những việc nên làm để tự bảo vệ bản thân khi gặp nguy hiểm? Theo em điều nào là quan trọng nhất? Tại sao?
24/04/2023 | 0 Trả lời
-
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi
CÔ GIÁO LỚP EM
Sáng nào em đến lớp
Cũng thấy cô đến rồi.
Đáp lời “Chào cô ạ!”
Cô mỉm cười thật tươi.
Cô dạy em tập viết.
Gió đưa thoảng hương nhài,
Nắng ghé vào cửa lớp
Xem chúng em học bài.
Những lời cô giáo giảng
Ấm trang vở thơm tho.
Yêu thương em ngắm mãi
Những điểm mười cô cho.
(Nguyễn Xuân Sanh, SGK Tiếng Việt 2, tập 1, NXB Giáo dục, 2002)
Câu 1. Tác giả đã sử dụng biện pháp tư từ nào qua chi tiết Nắng ghé vào; xem?
A. So sánh B. Nhân hoá C. Ẩn dụ D. Hoán dụ
Câu 2. Điều gì làm nhân vật em luôn ấn tượng mãi?
A. hình ảnh cô giáo B. hình ảnh lớp học
C. hình ảnh trang vở D. hình ảnh điểm mười
Câu 3. Ai là người chăm lo, giúp đỡ em từ những nétchữ đầu đời?
A. Cô B. Thầy C. Ba mẹ D. Ông bà
Câu 4. Trong bài thơ, nhân vật em có thái độ, tình cảm như thế nào với cô giáo?
A. Lo lắng, yêu quý B. Lễ phép, trân trọng
C. Lo lắng, trân trọng D. Ngạc nhiên, yêu quý
Câu 5. Em hãy chọn từ, cụm từ phù hợp điền vào phần còn thiếu để hoàn thành thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc.
Hình ảnh ____trong bài thơ gợi đến ký ức về một người hiền từ đã dạy mình những nét chữ, những con số đầu tiên. _______cứ thủ thỉ, ấm áp mà thấm sâu trong tâm hồn, khắc ghi trong trái tim bao thế hệ học trò.
A. trang vở; Tình cảm thầy trò B. lớphọc; Tình cảm bạn bè
C. cô giáo; Tình cảm cô trò D. cô giáo; Tình cảm thầy trò
Câu 6. Ý nào đúng khi nói về tác dụng của các vần nhài-bài, tho-cho?
A. Vần được gieo vào cuối dòng, có tác dụng đánh dấu sự kết thúc dòng thơ và tạo nên mối liên kết giữa các dòng thơ.
B. Vần được gieo vào cuối dòng, có tác dụng đánh dấu sự chuyển tiếp dòng thơ và tạo nên sự tách biệt giữa các dòng thơ.
C. Vần được gieo vào cuối dòng, có tác dụng đánh dấu sự chuyển tiếp dòng thơ và tạo nên tiết tấu của các dòng thơ.
D. Vần được gieo vào cuối dòng, có tác dụng đánh dấu sự thay đổi dòng thơ và tạo nên nhạc điệu của các bàithơ.
Câu 7. Từ đưa trong câu Gió đưa thoảng hương nhài có nghĩa là
A. trao, giao trực tiếp cho người khác về một sự vật, sự việc, đối tượng.
B. dẫn dắt, điều khiển, làm cho đi tới một nơi, đạt tới một đích nhất định.
C. chuyển động hoặc làm cho chuyển động qua lại một cách nhẹ nhàng.
D. cùng đi với ai một đoạn đường trước lúc chia tay hoặc xa cách.
Câu 8. Từ câu thơ Cô dạy em tập viết có thể mở rộng chủ ngữ bằng cụm từ. Cách nào sau đây thực hiện đúng?
A. Mỗi ngày, cô dạy em tập viết. B. Cô thường dạy em tập viết.
C. Cô thì dạy em tập viết. D. Những người cô dạy em tập viết.
Câu 9. Qua bài thơ trên, em rút ra được bài học gì về cách ứng xử với thầy cô?
Câu 10. Khi đánh giá về văn bản Cô giáo lớp em, có bạn cho rằng: Bài thơ nhỏ nhắn, xinh xắn rất đẹp từ ngôn từ đến cảm xúc, tình cảm ẩn chứa trong đó. Vậy ý kiến của em như thế nào?
10/05/2023 | 0 Trả lời
-
07/07/2023 | 0 Trả lời



