YOMEDIA
NONE

Phân tích các bài Tĩnh dạ tứ, Bài ca côn sơn...

Phân tích các bài thơ: Tĩnh dạ tứ, Bài ca côn sơn, buổi chiều đứng ở phủ thiên trường trông ra , bánh trôi nước, sông núi nước nam, qua đèo ngang, một thứ quà của lúa non: cốm, rằm tháng riêng

Theo dõi Vi phạm
ATNETWORK

Trả lời (5)

  • Nguyễn Trãi một người quân sư tài ba, một nhà thơ lớn của dân tộc. Ông không trực tiếp đánh giặc nhưng qua ngòi bút của mình ông đã làm lung lay biết bao nhiêu quân xâm lược khiến cho chúng không cần đánh cũng đã thua rồi. Căn bản là ở sự chính nghĩa của ta và ngòi bút sắc sảo không thể chối cãi được của Nguyễn trãi. Tuy nhiên thì chúng ta không chỉ biết đến ông hùng hồn sắc sảo trong bình ngô đại cáo mà chúng ta còn biết đến sự nhẹ nhàng của thiên nhiên trong côn sơn ca của ông. Có thể nói ông viết thơ ca chính luận cũng hay mà đến thơ ca thiên nhiên cũng hay không kém. Qua bài thơ ấy Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu thiên nhiên của mình.

    Bài thơ này được viết vào những năm Nguyễn trãi về quê ở ẩn. Những năm tháng ấy ông sống trong cảnh thiên nhiên của côn Sơn. Bài thơ như những nốt nhạc thanh thản của Nguyễn Trãi sau khi cáo quan trường về sống với làng quê thiên nhiên.



    phan tich bai tho con son ca nguyen trai

    Bức tranh thiên nhiên Côn Sơn hiện lên thật đẹp qua cảm nhận của tác giả. Chúng ta như đắm chìm cùng những sắc đẹp nơi đây:

    “Côn Sơn suối chảy rì rầm,
    Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
    Côn Sơn có đá rêu phơi,
    Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm.
    Trong ghềnh thông mọc như nêm,
    Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
    Trong rừng có bóng trúc râm,
    Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn. ”

    Bức tranh thiên nhiên ấy hiện lên với âm thanh, màu sắc, hình ảnh rất đẹp. Chỉ có trong mấy câu thơ mà tác dụng sử dụng đến ba phép so sánh nhằm nhấn mạnh những vẻ đẹp thiên nhiên nơi đây. Tiếng suối Côn Sơn không giống như tiếng hát của người con gái trong Cảnh Khuya hồ Chí Minh đã nói:

    “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”

    Mà tiếng suối ở đây được ví như tiếng đàn cầm du dương bên tai, trong rừng rêu trên đá khiến cho nhà thơ ngồi trên đó cảm giác giống như là đang ngồi trên đệm êm. Những bóng trúc râm và những cây thông cao vút. Có thể nói nơi đây từ màu sắc xanh của cây rừng đến những tiếng suối rì rầm kia giao hòa với tâm hồn người nghệ sĩ. Dưới sự thoải mái của tâm hồn cũng như thanh thản tươi đẹp của thiên nhiên nhà thơ cất lên những câu thơ như ngâm nga trong khoảng không gian ấy. Thông được so sánh như nêm để cho thấy được ở Côn Sơn những cây thông ấy quả thật rất nhiều. Phải chăng chính sự dày đặc của thông của trúc là nơi che chở tâm hồn nhà thơ tránh khỏi những bụi trần?. Cũng có thể những cây thông kia là những người tri kỉ bầu bạn với nhà thơ. Là một người nghệ sĩ thì thiên nhiên cảnh đẹp luôn làm cho người ta thoải mái và thăng hoa. Chính vì thế mà thiên nhiên chính là những gì mà nhà thơ tìm thấy được khi về quê ở ẩn.

    Nhà thơ đang vui say như thế nhưng giọng thơ bỗng nhiên như trùng lại vì những câu thơ tiếp theo nhà thơ bỗng trầm ngâm tự nói với mình, tự nhắc nhớ mình:

    “Về đi sao chẳng sớm toan,
    Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?
    Muôn chung chín vạc làm gì,
    Cơm rau nước lã nên tuỳ phận thôi.
    Đổng, Nguyên để tiếng trên đời,
    Hồ tiêu ăm ắp, vàng mười chứa chan.
    Lại kia trên núi Thú San,
    Di, Tề nhịn đói chẳng màng thóc Chu.
    Hai đàng khó sánh hiền ngu,
    Đều làm cho thỏa được như ý mình. ”


    Nhà thơ như thể hiện sự đúng đắn của mình khi cáo quan về ở ẩn. Nửa đời làm quan Nguyễn Trãi bị những nịnh thần chèn ép. Chính vì thế mà ông chán ghét cảnh quan trường sự tận trung của ông như thế được coi là đã đủ. Câu hỏi “Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?” như lời tự nhắc nhở của nhà thơ đối với chính bản thân mình. Nhà thơ cũng giống như Nguyễn Bỉnh Khiêm “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chốn lao xao”. Để về được Côn Sơn một cách thật sự thì Nguyễn Trãi cũng phải trải qua biết bao nhiêu lần được vua mời ra làm quan. Ông tự cảm thấy vừa mừng vì được vua tín nhiệm nhưng cũng vừa sợ trước cảnh quan trường nhiều thủ đoạn bon chen. Ông quả thật là một người “nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá…” (Phạm Văn Đồng). Và phải chăng đó chính là bi kịch giằng xé trong Nguyễn Trãi. Ông muốn giúp nước giúp vua nhưng lại không muốn chịu cảnh quan trường bon chen hãm hại lẫn nhau. Điều đó làm cho lương tâm ngay thẳng của ông không thể chấp nhận được. Mà một khi đã không còn thích với chốn quan trường ấy thì nhất quyết là không thể làm được gì. Thế rồi nhà thơ nói về quy luật ở đời. Đồng Trác đời Đông Hán, Nguyên Tải đời Đường kia đều có những công danh, vinh hóa phú quý cả một đời thế nhưng khi chết lại để lại tiếng xấu. còn Bá Di thúc tề đời Ân, Chu thà nhịn đói cũng không lấy thóc. Hai cách sống, hai cách lựa chọn khác nhau ấy đã làm nổi bật lên quan điểm sống của Nguyễn Trãi đã chọn. Đó là thà có ăn uống nước lã đi chăng nữa mà để lại tiếng thơm muôn đời còn hơn là phú quý giàu sang để rồi để một đời ô nhục không bao giờ hết. Chung quy sự “hiền, ngu” ở đời đều là để thỏa ý mình mà thôi.

    Và cũng chính từ những suy nghĩ ấy Nguyễn Trãi như thể hiện cuộc đời triết lý nhân sinh của mình:

    “Trăm năm trong cuộc nhân sinh,
    Người như cây cỏ thân hình nát tan.
    Hết ưu lạc đến bi hoan,
    Tốt tươi khô héo, tuần hoàn đổi thay.
    Núi gò đài các đó đây,
    Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh.
    Sào, Do bằng có tái sinh,
    Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn. ”

    Nhà thơ ví thân phận của con người chẳng khác nào cây cỏ cả rất dễ nát tan, dễ bị dẫm đạp. Quan điểm triết lý ấy chưa hẳn là bi quan mà nó nói lên cái mong manh của sự sống chết của con người. Nó giống như câu thơ “Sông có khúc, người có lúc”. Thân phận con người không thể lúc nào cũng hiển đạt sung sướng được vì thế cho nên cũng giống như cây cỏ kia con người có lúc giàu sang hạnh phúc nhưng cũng có lúc nghèo khổ ô nhục. Cái sự tốt tươi kia thay đổi tuần hoàn. Nguyễn Trãi viết “Côn Sơn ca” trước bao lâu vụ án Lệ Chi Viên xảy ra ? Tâm trạng thời thế, triết lí về cuộc đời mà Nguyễn Trãi nói đến trong phần hai bài ca là cả một nỗi buồn thấm sâu, tỏa rộng trong tâm hồn nhà thơ. Suy cho cùng thì dẫu có hiển đạt hay nhục nhã thì khi chết đi con người cũng chẳng biết gì nữa.

    Đặc biệt là hai câu thơ cuối của tác giả đã thể hiện được sự thiết tha của Nguyễn Trãi:

    “Sào, Do bằng có tái sinh,
    Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn. ”

    Sài Phủ, Hứa Do đều là những vị quan thanh liêm thời vua Nghiêu Trung Quốc. Cả hai người ấy đều không màng danh lợi mà quyết định sống một cuộc đời ẩn dật chính vì thế mà nhà thơ như học tập những con người như thế. Và bằng tiếng gọi tha thiết nhà thơ như muốn nếu họ tái sinh thì hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn. Bài ca ấy thể hiện nỗi niềm của nhà thơ và phải chăng nhà thơ như muốn tìm những người tri kỉ, những người có thể hiểu được bản thân mình.

    Như vậy qua đây ta thấy được những tâm tư tình cảm của Nguyễn Trãi qua bài thơ này. Nhà thơ về quê ở ẩn đắm chìm trong không gian cảnh vật nơi Côn Sơn, thiên nhiên ấy giống như tri kỉ của nhà thơ vậy. Hồn thơ cùng với thiên nhiên như hòa vào làm một. Đặc biệt qua đó ta cũng thấy được những quan điểm suy nghĩ của nhà thơ về sự “hiền, ngu” trong cuộc đời.

      bởi Đức Kim 20/11/2018
    Like (0) Báo cáo sai phạm
  • YOMEDIA

    Video HD đặt và trả lời câu hỏi - Tích lũy điểm thưởng

  •  Tĩnh Dạ Tứ :

    Lý Bạch, một nhà thơ với phong cách sáng tác vô cùng lãng mạn, trữ tình, những sáng tác của ông khiến người đọc chìm đắm trong cái đẹp, chìm đắm trong không gian gần gũi mà lại vô cùng thanh tịnh, ông lấy nguồn cảm hứng từ vẻ đẹp của thiên nhiên để làm đề tài cho các tác phẩm của mình, nổi bật là bài thơ “Tĩnh dạ tứ” mượn nét đẹp nhẹ nhàng của ánh trăng để bày tỏ nỗi nhớ nhung về quê nhà.

         Với một người con xa xứ, sống tha hương nơi đất khách quê người thì những hình ảnh về quê hương luôn đem lại cảm xúc khó tả vô cùng, những kỉ niệm bắt đầu ùa về từng chút từng chút một thật rõ nét, lấy cảm xúc từ một đêm trăng thay lời muốn nói cho nỗi lòng của ông.

    Sàng tiền minh nguyệt quang

    Nghi thị địa thượng sương

         Ánh trăng rọi qua khung cửa sổ nơi ông đang lặng thinh trong những suy nghĩ, cảm xúc hỗn loạn, một không gian về đêm thật yên tĩnh, vắng lặng, tất cả đã chìm sâu vào trong giấc ngủ, chỉ có ánh trăng với con người đang trầm tư bên khung cửa sổ đêm trăng đó thật đẹp, đêm trăng có một sức hút lạ kì cuốn ông vào trong vẻ đẹp đó, dưới ánh trăng nhẹ nhàng đó là những trằn trọc suy nghĩ bồn chồn không thể nào chợp mắt được.

     

    Ánh trăng bao trùm lên khoảng không rộng lớn, chiếu rọi mặt đất khiến ông liên tưởng tới sự mờ ảo của làn sương mỏng đang bao phủ, ánh trăng như thấu hiểu được những cảm xúc của chính con người đó, những cảm xúc tràn ra như cách mà ánh trăng đã làm, cảm xúc khiến con người ngỡ ngàng và vô tình giật mình trước khung cảnh của thiên nhiên. Chỉ với hai câu thơ mà qua ngòi bút của tác giả đã vẽ ra một khung cảnh thật yên tĩnh, những dòng cảm xúc cũng từ đó mà thể hiện ra, lúc này trăng không chỉ là một vẻ đẹp mà thiên nhiên ban tặng cho con người mà đối với ông trăng còn là người bạn, một người để ông tâm tình, san sẻ những cảm xúc từ tận đáy lòng mình.

    Cử đầu vọng minh nguyệt

    Đê đầu tư cố hương

          Hai câu thơ là hai hành động đối lập nhau, ngẩng đầu để có thể nhìn thấy hình dáng trăng, để tự lí giải vì sao trăng đẹp tới như vậy mà chỉ toàn chất chứa nỗi buồn, phải chăng vẻ đẹp thường không đem lại niềm vui, vẻ đẹp chỉ là vỏ bọc cho nỗi nhớ tồn tại ở bên trong, vẻ đẹp đó tạo ra sự đối lập giữa hành động ngẩng đầu ngắm trăng và cúi đầu nhớ quê hương, trăng như là nguồn gốc cho nỗi nhớ đó để rồi từ đó tuôn trào tất cả dòng cảm xúc đang sôi sục trong người, nỗi nhớ cứ thế ùa về, nỗi nhớ về quê hương nơi đã từng nuôi lớn bản thân ông, nơi vun đắp biết bao kỉ niệm ngày thơ ấu. Hình ảnh cúi đầu như cách thể hiện cảm xúc cực đỉnh, một cảm xúc nhẹ nhàng nhưng rất đau lòng, một nỗi nhớ cồn cào da diết, qua đó cho thấy một bài thơ tả cảnh ngụ tình thường đem lại những cảm xúc rất lắng đọng, cảnh và tình luôn song song gắn bó với nhau, dùng cảnh để dãi bày tâm sự, để bộc lộ cảm xúc chính là điểm đặc biệt nhất trong thơ Lý Bạch.

           Có thể nói tình yêu đối với quê hương đất nước là một thứ cảm xúc rất khó để nói bằng lời, chính vì điều đó mà những nhà văn nhà thơ thường dùng thiên nhiên để toát lên tình yêu đó, và bài thơ “Tĩnh dạ tứ” đã thể hiện thành công tâm trạng của bất kì người con xa xứ nào khi nghĩ về quê hương của mình.

      bởi ミ★Bạch Kudo★彡 20/11/2018
    Like (0) Báo cáo sai phạm
  • Nguyễn Trãi một người quân sư tài ba, một nhà thơ lớn của dân tộc. Ông không trực tiếp đánh giặc nhưng qua ngòi bút của mình ông đã làm lung lay biết bao nhiêu quân xâm lược khiến cho chúng không cần đánh cũng đã thua rồi. Căn bản là ở sự chính nghĩa của ta và ngòi bút sắc sảo không thể chối cãi được của Nguyễn trãi. Tuy nhiên thì chúng ta không chỉ biết đến ông hùng hồn sắc sảo trong bình ngô đại cáo mà chúng ta còn biết đến sự nhẹ nhàng của thiên nhiên trong côn sơn ca của ông. Có thể nói ông viết thơ ca chính luận cũng hay mà đến thơ ca thiên nhiên cũng hay không kém. Qua bài thơ ấy Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu thiên nhiên của mình.

    Bài thơ này được viết vào những năm Nguyễn trãi về quê ở ẩn. Những năm tháng ấy ông sống trong cảnh thiên nhiên của côn Sơn. Bài thơ như những nốt nhạc thanh thản của Nguyễn Trãi sau khi cáo quan trường về sống với làng quê thiên nhiên.

    Bức tranh thiên nhiên Côn Sơn hiện lên thật đẹp qua cảm nhận của tác giả. Chúng ta như đắm chìm cùng những sắc đẹp nơi đây:

    “Côn Sơn suối chảy rì rầm,
    Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
    Côn Sơn có đá rêu phơi,
    Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm.
    Trong ghềnh thông mọc như nêm,
    Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
    Trong rừng có bóng trúc râm,
    Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn. ”

    Bức tranh thiên nhiên ấy hiện lên với âm thanh, màu sắc, hình ảnh rất đẹp. Chỉ có trong mấy câu thơ mà tác dụng sử dụng đến ba phép so sánh nhằm nhấn mạnh những vẻ đẹp thiên nhiên nơi đây. Tiếng suối Côn Sơn không giống như tiếng hát của người con gái trong Cảnh Khuya hồ Chí Minh đã nói:

    “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”

    Mà tiếng suối ở đây được ví như tiếng đàn cầm du dương bên tai, trong rừng rêu trên đá khiến cho nhà thơ ngồi trên đó cảm giác giống như là đang ngồi trên đệm êm. Những bóng trúc râm và những cây thông cao vút. Có thể nói nơi đây từ màu sắc xanh của cây rừng đến những tiếng suối rì rầm kia giao hòa với tâm hồn người nghệ sĩ. Dưới sự thoải mái của tâm hồn cũng như thanh thản tươi đẹp của thiên nhiên nhà thơ cất lên những câu thơ như ngâm nga trong khoảng không gian ấy. Thông được so sánh như nêm để cho thấy được ở Côn Sơn những cây thông ấy quả thật rất nhiều. Phải chăng chính sự dày đặc của thông của trúc là nơi che chở tâm hồn nhà thơ tránh khỏi những bụi trần?. Cũng có thể những cây thông kia là những người tri kỉ bầu bạn với nhà thơ. Là một người nghệ sĩ thì thiên nhiên cảnh đẹp luôn làm cho người ta thoải mái và thăng hoa. Chính vì thế mà thiên nhiên chính là những gì mà nhà thơ tìm thấy được khi về quê ở ẩn.

    Nhà thơ đang vui say như thế nhưng giọng thơ bỗng nhiên như trùng lại vì những câu thơ tiếp theo nhà thơ bỗng trầm ngâm tự nói với mình, tự nhắc nhớ mình:

    “Về đi sao chẳng sớm toan,
    Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?
    Muôn chung chín vạc làm gì,
    Cơm rau nước lã nên tuỳ phận thôi.
    Đổng, Nguyên để tiếng trên đời,
    Hồ tiêu ăm ắp, vàng mười chứa chan.
    Lại kia trên núi Thú San,
    Di, Tề nhịn đói chẳng màng thóc Chu.
    Hai đàng khó sánh hiền ngu,
    Đều làm cho thỏa được như ý mình. ”

    Nhà thơ như thể hiện sự đúng đắn của mình khi cáo quan về ở ẩn. Nửa đời làm quan Nguyễn Trãi bị những nịnh thần chèn ép. Chính vì thế mà ông chán ghét cảnh quan trường sự tận trung của ông như thế được coi là đã đủ. Câu hỏi “Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?” như lời tự nhắc nhở của nhà thơ đối với chính bản thân mình. Nhà thơ cũng giống như Nguyễn Bỉnh Khiêm “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chốn lao xao”.  Để về được Côn Sơn một cách thật sự thì Nguyễn Trãi cũng phải trải qua biết bao nhiêu lần được vua mời ra làm quan. Ông tự cảm thấy vừa mừng vì được vua tín nhiệm nhưng cũng vừa sợ trước cảnh quan trường nhiều thủ đoạn bon chen. Ông quả thật là một người “nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá…” (Phạm Văn Đồng). Và phải chăng đó chính là bi kịch giằng xé trong Nguyễn Trãi. Ông muốn giúp nước giúp vua nhưng lại không muốn chịu cảnh quan trường bon chen hãm hại lẫn nhau. Điều đó làm cho lương tâm ngay thẳng của ông không thể chấp nhận được. Mà một khi đã không còn thích với chốn quan trường ấy thì nhất quyết là không thể làm được gì. Thế rồi nhà thơ nói về quy luật ở đời. Đồng Trác đời Đông Hán, Nguyên Tải đời Đường kia đều có những công danh, vinh hóa phú quý cả một đời thế nhưng khi chết lại để lại tiếng xấu. còn Bá Di thúc tề đời Ân, Chu thà nhịn đói cũng không lấy thóc. Hai cách sống, hai cách lựa chọn khác nhau ấy đã làm nổi bật lên quan điểm sống của Nguyễn Trãi đã chọn. Đó là thà có ăn uống nước lã đi chăng nữa mà để lại tiếng thơm muôn đời còn hơn là phú quý giàu sang để rồi để một đời ô nhục không bao giờ hết. Chung quy sự “hiền, ngu” ở đời đều là để thỏa ý mình mà thôi.

    Và cũng chính từ những suy nghĩ ấy Nguyễn Trãi như thể hiện cuộc đời triết lý nhân sinh của mình:

    “Trăm năm trong cuộc nhân sinh,
    Người như cây cỏ thân hình nát tan.
    Hết ưu lạc đến bi hoan,
    Tốt tươi khô héo, tuần hoàn đổi thay.
    Núi gò đài các đó đây,
    Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh.
    Sào, Do bằng có tái sinh,
    Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn. ”

    Nhà thơ ví thân phận của con người chẳng khác nào cây cỏ cả rất dễ nát tan, dễ bị dẫm đạp. Quan điểm triết lý ấy chưa hẳn là bi quan mà nó nói lên cái mong manh của sự sống chết của con người. Nó giống như câu thơ “Sông có khúc, người có lúc”. Thân phận con người không thể lúc nào cũng hiển đạt sung sướng được vì thế cho nên cũng giống như cây cỏ kia con người có lúc giàu sang hạnh phúc nhưng cũng có lúc nghèo khổ ô nhục. Cái sự tốt tươi kia thay đổi tuần hoàn. Nguyễn Trãi viết “Côn Sơn ca” trước bao lâu vụ án Lệ Chi Viên xảy ra ? Tâm trạng thời thế, triết lí về cuộc đời mà Nguyễn Trãi nói đến trong phần hai bài ca là cả một nỗi buồn thấm sâu, tỏa rộng trong tâm hồn nhà thơ. Suy cho cùng thì dẫu có hiển đạt hay nhục nhã thì khi chết đi con người cũng chẳng biết gì nữa.

    Đặc biệt là hai câu thơ cuối của tác giả đã thể hiện được sự thiết tha của Nguyễn Trãi:

    “Sào, Do bằng có tái sinh,
    Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn. ”

    Sài Phủ, Hứa Do đều là những vị quan thanh liêm thời vua Nghiêu Trung Quốc. Cả hai người ấy đều không màng danh lợi mà quyết định sống một cuộc đời ẩn dật chính vì thế mà nhà thơ như học tập những con người như thế. Và bằng tiếng gọi tha thiết nhà thơ như muốn nếu họ tái sinh thì hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn. Bài ca ấy thể hiện nỗi niềm của nhà thơ và phải chăng nhà thơ như muốn tìm những người tri kỉ, những người có thể hiểu được bản thân mình.

    Như vậy qua đây ta thấy được những tâm tư tình cảm của Nguyễn Trãi qua bài thơ này. Nhà thơ về quê ở ẩn đắm chìm trong không gian cảnh vật nơi Côn Sơn, thiên nhiên ấy giống như tri kỉ của nhà thơ vậy. Hồn thơ cùng với thiên nhiên như hòa vào làm một. Đặc biệt qua đó ta cũng thấy được những quan điểm suy nghĩ của nhà thơ về sự “hiền, ngu” trong cuộc đời.

      bởi ミ★Bạch Kudo★彡 20/11/2018
    Like (0) Báo cáo sai phạm
  • thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra :

     

    Trần Nhân Tông (1258 - 1308) là ông vua anh hùng - thi sĩ của Đại Việt trong thếkỉ XIII. Thông minh, học rộng, có tài thao lược và rất tài hoa. Tên tuổi nhà vua gắn liền với những chiến công hiển hách của nhân dân trong hai cuộc kháng chiến lần thứ hai và lần thứ ba đánh giặc Nguyên - Mông xâm lược.

    Trong một số bài thơ chữ Hán của Trần Nhân Tông để lại có hai bài viết về Thiên Trường, mảnh đất “phát nghiệp đế vương” của nhà Trần: Hạnh Thiên Trường hành cung và Thiên Trường vãn vọng.

    Thiên Trường là một trong 12 lộ thời Trần, thuộc Sơn Nam; nay thuộc ngoại thành Nam Định. Thiên Trường vốnlà Thái ấp của vua chúa nhà Trần, ở đây xưa kia có nhiều cung điện nguy nga tráng lệ.

    Thiên Trường vãn vọngđược viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (luật trắc, vần bằng). Bài thơ gợi tả cảnh xóm thôn, đồng quê vùng Thiên Trường qua cái nhìn và cảm xúc của Trần Nhân Tông. Cảm xúc lắng đọng, cái nhìn man mác bâng khuâng ôm trùm cảnh vật:

    “Thôn hậu, thôn tiền, đạm tự yên,

    Bán vô, bán hữu, tịch dương biên.

    Mục đồng địch lí nguy quy tận

    Bạch lộ song song phi hạ điền”.

    Hơn 60 năm về trước, cụ Ngô Tất Tố đã dịch rất hay bài thơ này.

    Hai câu thơ đầu gợi tả cảnh làng quê vùng Thiên Trường trong ánh chiều tàn. Bốn chữ “thôn hậu thôn tiền” và “bánvô bán hữu”liên kết đôi, tạo nên sự cân xứng hài hòa về ngôn ngữ đã gửi lên cảnh xóm thôn “trước xóm sau thôn” phủ mờ khói nhạt, càng trở nên mơ màng, mênh mang. Khói của sương chiều. Khói lam chiều vấn vương, nhẹ bay trên những mái nhà tranh sau lũy tre làng. Chỉ bằng ba nét vẽ rất chọn lọc, lối tả ít mà gợi nhiều của thi pháp cổ, thi sĩ vẽ lên một không gian nghệ thuật về cảnh sắc làng quê một buổi chiều tàn phủ mờ sương khói và ánh tà dương rất yên bình, êm đềm, nên thơ. Nét vẽ thanh nhẹ. Cảnh vật bao la, tĩnh lặng. Ngoại cảnh và tâm cảnh đồng hiện. Tưởng như thí sĩ đang thả hồn mình vào cảnh vật, lặng ngắm thôn xóm quê hương gần xa không chán. So sánh “đạm tự yên” (mờ nhạt như khói) là một hình tượng đầy thi vị. Cả một hồn quê man mác gợi cảm:

    Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,

    Bóng chiều man mác có dường không.

    Hai câu thơ là cảnh sắc đồng quê rất dân dã, bình dị, thân thuộc mà đáng yêu. Trên những nẻo đường quê, đàn trâu nối đuôi nhau về thôn. Cóâm thanh tiếng sáo mục đồng cất lên, âm thanh réo rắt, hồn nhiên, thanh bình của làng quê ta xưa nay. Có từng đôi, từng đôi cò trắng bay liệng, nối tiếp nhau hạ xuống đồng. Nhà thơ không nói đến màu xanh và hương lúa mà người đọc vẫn cảm nhận được. Ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ đầy âm thanh và màu sắc, thanh tao và dào dạt sức sống. Bút pháp điểm nhãn, lấy động để tả tĩnh của tác giả được thể hiện một cách ấn tượng về bức tranh đồng quê này:

    Mục đồng sáo vẳng trâu về hết

    Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.

    Tình quê và hồn quê chan hòa, dào dạt. Thiên Trường thuở ấy, đường sá rầm rập ngựa xe, có biết bao cung điện của vua chúa, tôn thất nhà Trần, nhưng Trần Nhân Tông không nói đến lầu son gác tía, bệ ngọc ngai vàng tráng lệ nguy nga, mà chỉ nói đến cảnh sắc thiên nhiên. Tính bình dị, dân dã, hồn nhiên là cốt cách, là hồn thơ của ông vua anh hùng - thi sĩ này. Cảm nhận ấy càng rõ khi ta đọc bài thơ Hạnh Thiên Trường hành cung (Ngự chơi hành cung Thiên Trường):

    “Cảnh thanh u, vật cũng thanh u

    Mười mấy châu tiền ấy một châu

    Trăm tiếng đàn chim, đàn nhạc hát,

    Nghìn hàng đám quýt, đám quân hầu.

    Trăng vô sự chiếu người vô sự

     Nước có thu lồng trời có thu

    Vừa bốn bể trong, vừa bụi lặng,

    Độ xưa so với độ này thua”.

    Cảnh buổi chiều được nói đến trong bài Hạnh Thiên Trường hành cung là cảnh chiều xuân hay chiều thu? Rất khó xác định. Ta chỉ cảm nhận được đó là một buổi chiều êm đềm, xóm thôn phủ mờ sương khói tà dương. Không gian nghệ thuật và tâm trạng nghệ đồng hiện cho ta khẳng định: Trần Nhân Tông viết Thiên Trường vãn vọng sau năm 1288, khi giặc Nguyên - Mông đã bị nhân dân ta đánh bại, nước Đại Việt thanh bình, yên vui.

    Bài tứ tuyệt Thiên Trường vãn vọng là một bức tranh quê đậm nhạt, mờsáng, rất đẹp và tràn đầy sức sống. Một bút pháp nghệ thuật cổ điển tài hoa. Một tâm hồn thanh cao, yêu đời. Tình yêu thiên nhiên, yêu đồng quê xứ sở đã được thể hiện bằng một số hình tượng đậm đà, ấm áp qua những nét vẽ tinh tế, gợi hình, gợi cảm, giàu liên tưởng. Kì diệu thay, bài thơ đã vượt qua một hành trình trên bảy trăm năm, đọc lên, nó vẫn cho ta nhiều thú vị. Ta vẫn cảm thấy cánh cò trắng được nói đến trong bài thơ vẫn còn bay trong ráng chiều đồng quê, và còn chấp chới trong hồn ta. Thơ đích thực là thế!

      bởi ミ★Bạch Kudo★彡 20/11/2018
    Like (0) Báo cáo sai phạm
  • Bánh trôi nước :

     Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là một bài vịnh độc đáo: vịnh một món ăn dân tộc, dân gian. Thiếu một bàn tay, một tâm hồn phụ nữ dân dã như bà thì có lẽ cái bánh trôi nước chưa đi vào được văn học.

    Trước hết, bài thơ vịnh của Hồ Xuân Hương rất tài tình:

    Thân em vừa trắng, lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

    Đây là lời tự giới thiệu của bánh: từ hình dáng, cấu tạo và cách chế tạo. Bánh trôi làm bằng bột nếp, nhào nước cho nhuyễn, rồi nặn thành hình tròn như quả táo, bọc lấy nhân bằng đường đen, nước sôi thì bỏ vào luộc, khi chín thì bánh nổi lên. Người nặn bột làm bánh phải khéo tay thì bánh mới đẹp, nếu vụng thì bánh có thể bị rắn hay bị nhão. Nhưng dù thế nào thì bánh vẫn phải có nhân. Thiếu nhân, bánh sẽ rất nhạt nhẽo. Đọc bài thơ, ta thấy hiện lên đúng là bánh trôi nước, không sai một li.

    Hình ảnh trong bài thơ là bánh trôi nước. Nhưng bài thơ đâu phải là tác phẩm quảng cáo cho một món ăn dân tộc. Thơ vịnh chỉ thực sự có ý nghĩa khi có sự gửi gắm tình cảm, tư tưởng của nhà thơ. Bài thơ của Hồ Xuân Hương, vì thế, còn là lời tự bộc bạch của một tấm lòng phụ nữ. Ta có thể nói nhà thơ mượn lời cái bánh trôi để nói lên thân phận và tấm lòng người phụ nữ. Bánh trôi là một hình ảnh gợi hứng, một ẩn dụ.

    Thân em vừa trắng, lại vừa tròn

    Thân trắng vừa tả cái bánh bằng bột trắng, vừa tả tấm thân trắng đẹp, phẩm hạnh trong trắng. Tròn vừa có nghĩa là em được phú cho cái hình dáng tròn, lại vừa có nghĩa là em làm tròn mọi bổn phận của em.

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Bảy nổi ba chìm là thành ngữ chỉ sự trôi nổi, lênh đênh của số phận giữa cuộc đời. Nước non là sông, biển, núi, non, chỉ hoàn cảnh sống, suy rộng ra là đời, cuộc đời con người.

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Đây là hình ảnh may rủi mà đời người phụ nữ rơi vào. Trong xã hội cũ trọng nam khinh nữ, số phận người phụ nữ đều do người đàn ông định đoạt. Cho nên người con gái trong ca dao cảm nhận:

    Thân em như tấm lụa đào

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

    Thân em như thể cánh bèo

    Ngược xuôi, xuôi ngược theo chiều nước trôi

    Những câu ca dao thể hiện một ý thức an phận, cam chịu. Cái duy nhất họ làm chủ được là tấm lòng mình:

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son

    Người phụ nữ vẫn giữ niềm thuỷ chung, son sắt, bất biến với mối tình. Một lời nói thể hiện niềm tự hào kín đáo về phẩm chất thuỷ chung của người phụ nữ. Tuy nhiên, cả bài thơ vẫn thấm đượm nỗi cảm thương cho thân phận. Thân trắng, phận tròn mà phải chịu cảnh ba chìm bảy nổi, không làm chủ được mình.



     

      bởi ミ★Bạch Kudo★彡 20/11/2018
    Like (0) Báo cáo sai phạm

Nếu bạn hỏi, bạn chỉ thu về một câu trả lời.
Nhưng khi bạn suy nghĩ trả lời, bạn sẽ thu về gấp bội!

Lưu ý: Các trường hợp cố tình spam câu trả lời hoặc bị báo xấu trên 5 lần sẽ bị khóa tài khoản

Gửi câu trả lời Hủy
 
NONE

Các câu hỏi mới

AANETWORK
 

 

YOMEDIA
ATNETWORK
ON