B Ming_'s Profile

B Ming_

B Ming_

13/08/2005

Số câu hỏi 0
Số câu trả lời 1205
Điểm 4938
Kết bạn

Bạn bè (2)

Hoạt động gần đây (1264)

  • B Ming_ đã trả lời trong câu hỏi: Viết đoạn văn chủ đề môi trường Cách đây 2 tuần

    Kia là khu vườn rau do mẹ em trồng. Bốn luống cải chạy đều một hàng, màu xanh tươi tắn trải lên trên màu đất vàng sẫm. Có luống vừa bén chân, mới trổ đôi ba tờ lá bé. Những mảnh lá xanh rờn có khứa răng cưa chu vi, khom xuống sát đất. Cải này trồng để ăn vào tết Nguyên đán. Cũng có những luống tàu lá cải đã vồng cao. Khía lá rách mạnh vào chiều sâu. Ở giữa chòm lá loè xoè vươn lên một cái thân dài mụ mẫm và phấn trắng. Đầu thân, lơ thơ những chùm hoa nhỏ xíu ấy nở ra những cánh vàng li ti. Đó là những luống cải để làm dưa. Chúng đã già rồi nhưng vườn chỉ đẹp khi những cây cải già nở hoa vàng. Có không biết bao nhiêu là bướm trắng tứ xứ mô tê nào rủ nhau đến chơi ở vườn cải, chúng hợp thành từng đàn bay rập rờn trên từng cánh lá. Chỉ bay thôi mà không đậu. Những cánh trăng trắng phấp phới trên nền cải xanh lốm đốm nở hoa vàng. Lại thêm có mưa xuân về sớm. Mưa không ra mưa mà là trời đổ bụi mưa xuống trước gió hiu hiu, những bụi trắng bay lăng quăng vơ vẩn. Em rất yêu vườn rau của nhà mình. Nó là nguồn cung cấp thực phẩm cho mỗi bữa ăn hàng ngày của gia đình . Em luôn chăm chỉ chăm sóc và bảo vệ nó

  • B Ming_ đã trả lời trong câu hỏi: Nghị luận về tệ nạn xã hội Cách đây 2 tuần

    Cuộc sống ngày càng phát triển hiện nay kéo theo đó là rất nhiều những tệ nạn xã hội khiến cho con người dần đi vào những nề nếp những nếp sống không văn minh đặc biệt là giới trẻ hiện nay. Được biết đến là chất gây nghiện và có tác hại rất lớn ma túy được coi là thứ vi trùng có tính độc hàng đầu hiện nay. Nói đến ma túy t cảm nhận được ngay những khổ đau những mất mát những tác hại mà nó mang lại cho loài người hiện nay.

     

    Trước tiên chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu xem ma túy là gì qua đó biết được tác hại mà nó đem lại.

     

    Theo cách hiểu thông thường trong xã hội Việt Nam hiện nay: trong xã hội, ma túy thường được hiểu đó là heroin, bạch phiến. Một người bị nghiện ma túy sẽ bị mọi người hiểu là nghiện heroin hay ngược lại mà không có sự phân biệt về chất người đó lệ thuộc. Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) định nghĩa từ năm 1957, nghiện là: "trạng thái ngộ độc kinh niên hay từng thời kỳ do sử dụng lập đi lập lại một hay nhiều lần một chất tự nhiên hay tổng hợp. Nó làm cho người nghiện ham muốn không tự kiềm chế được mà bằng mọi giá phải tiếp tục sử dụng. Nó gây xu hướng tăng dần liều lượng, gây ra sự lệ thuộc cả về tâm lý và thể chất, và có hại cho chính người nghiện và xã hội".

     

    Hiểu được khái niệm ma túy chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu tác hại rất lớn của ma túy đối với người sử dụng nó. Trước tiên nó gây tổn hại về sức khỏe người nghiện ,nó gây tổn hại về Hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, các bệnh về da, làm suy giảm chức năng thải độc, hệ thần, nghiện ma túy dẫn đến tình trạng suy nhược toàn thân, suy giảm sức lao động. Nghiện ma túy dẫn đến tình trạng nhiễm độc ma túy mãn tính, suy nhược toàn thân, người gầy gò, xanh xao, mắt trắng, môi thâm, nước da tái xám, dáng đi xiêu vẹo, cơ thể gầy đét do suy kiệt hoặc phù nề do thiếu dinh dưỡng, rối loạn nhịp sinh học, thức đêm ngủ ngày, sức khỏe giảm sút rõ rệt. Người nghiện ma túy bị suy giảm sức lao động, giảm hoặc mất khả năng lao động và khả năng tập trung trí óc. trường hợp sử dụng ma túy quá liều có thể bị chết đột ngột. Bên cạnh những tổn thất về sức khỏe người nghiện ma túy còn bị những ảnh hưởng to lớn về tinh thần. Các công trình nghiên cứu về người nghiện ma túy khẳng định rằng nghiện ma túy gây ra một loại bệnh tâm thần đặc biệt. Người nghiện thường có hội chứng quên, hội chứng loạn thần kinh sớm (ảo giác, hoang tưởng, kích động. . . ) và hội chứng loạn thần kinh muộn (các rối loạn về nhận thức, cảm xúc, về tâm tính, các biến đổi về nhân cách đặc trưng cho người nghiện ma túy). Ở trạng thái loạn thần kinh sớm, người nghiện ma túy có thể có những hành vi nguy hiểm cho bản thân và người xung quan. Không những người nghiện ma túy gây ra những tổn hại cho chính bản thân người nghiện thì người nghiện ma túy còn gây những ảnh hưởng vô cùng to lớn cho gai đình xã hội và cả kinh tế của đất nước. Sử dụng ma túy tiêu tốn nhiều tiền bạc. Khi đã nghiện, Người nghiện luôn có xu hưởng tăng liều lượng dùng, chi phí về tiền của ngày càng lớn, dẫn đến họ bị khánh kiệt về kinh tế. Sử dụng ma túy làm cho người nghiện thay đổi trạng thái tâm lý, sa sút về tinh thần. Họ thường xa lánh nếp sống, sinh hoạt lành mạnh, xa lánh người thân, bạn bè tốt. Khi đã lệ thuộc vào ma túy thì nhu cầu cao nhất đối với người nghiện là ma túy, họ dễ dàng bỏ qua những nhu cầu khác trong cuộc sống đời thường. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu bức bách về ma túy của bản thân, họ có thể làm bất cứ việc gì kể cả trộm cắp, lừa đảo, cướp giật, thậm chí giết người, miễn là có tiền mua ma túy để thỏa mãn cơn nghiện. Hành vi, lối sống của họ bị sai lệch so với chuẩn mực đạo đức của xã hội và luật pháp. Họ là những người bị tha hóa về nhân cách.

     

    Chúng ta đã được nghe rất nhiều câu chuyện cảm động của những người thân của người nghiện ma túy. Những người nghiện đâu biết rằng những người thân của họ đã phải sống khổ sở như thế nào trước xã hội. Họ cũng đau khổ đâu kém những người nghiện,họ đâu dễ dàng nhìn cảnh người thân của mình mắc những căn bệnh không thể chữa khỏi,nhìn những người thân yêu nhất của mình ngày càng ốm yếu sống từng ngày vô nghĩa đối với bệnh tật thật chẳng dễ dàng gì. Đáng thương nhất chính là những em nhỏ vô tội được sinh ra nhiễm Hiv do bố mẹ của chúng bị nghiện ma túy. Chúng không thể đến trường chúng bị hắt hủi không được đối xử như những đứa trẻ khác khiến chúng trở nên mặc cảm tự ti và không dám tiếp nhận cuộc sống đầy sự hắt hủi của người đời dành cho chúng. Chúng ta cũng cần nhận biết được rằng người nghiện ma túy đúng là có cái sai của họ,có những người bị cám dỗ có những người chỉ là tai nạn nhưng khi họ đã biết quay đầu thì chúng ta nên mở rộng vòng tay đón nhận lấy họ đừng hắt hủi đừng xa lánh họ bởi họ cũng muốn được như những người bình thường khác họ cần được yêu thương và chắc chắn rồi họ rất cần chúng ta che chở để họ có thể tiếp nhận lại cuộc sống để sống có ý nghĩa hơn.

     

     

    Chính những tác hại của ma túy chúng ta đã tìm hiểu ở trên chúng ta hãy nói không với ma túy hãy hành động có ý nghĩa để nhắc nhở mọi người về tác hại của ma túy để cuộc sống của chúng ta ngày càng tốt đẹp hơn

  • B Ming_ đã trả lời trong câu hỏi: Viết đoạn văn về vai trò của môi trường đối với đời sống con người Cách đây 2 tuần

    -Đối với thiên nhiên:

     

    + Điều hòa khí hậu

     

    + giảm ô nhiễm môi trường

     

    +Chống xói mòn đất

     

    +Chống lũ lụt

     

    +cung cấp thức ăn cho nhiều loài động vật

     

    +Cân bằng lượng khí cacbonic và Ôxi

     

    -Đối với con người:

     

    +Nguồn thực phẩm dinh dưỡng cho người

     

    +Cung cấp oxi

     

    +Tạo bóng mát

     

    +Làm cảnh

     

    +Cung cấp gỗ

     

    +Làm đồ gia dụng(bàn ,ghế,...)

     

    +Làm thuốc chữa bệnh

     

    +Gỗ cây dùng trong xây dựng và các ngành

  • Tác giả sử dụng dụng biện pháp so sánh hùng tráng, bất ngờ ví “chiếc thuyền” như “con tuấn mã” và cánh buồm như “mảnh hồn làng” đã tạo nên hình ảnh độc đáo; sự vật như được thổi thêm linh hồn trở nên đẹp đẽ.

     

    - Phép so sánh đã gợi ra một vẻ đẹp bay bổng, mang ý nghĩa lớn lao thiêng liêng, vừa thơ mộng, vừa hùng tráng. Cánh buồm còn được nhân hóa như một chàng trai lực lưỡng đang “rướn” tấm thân vạm vỡ chống chọi với sóng gió.

     

    - Một loạt từ : Hăng, phăng, vượt... được diễn tả đầy ấn tượng khí thế hăng hái, dũng mãnh của con thuyền ra khơi.

     

     

    - Việc kết hợp linh hoạt và độc đáo các biện pháp so sánh, nhân hóa , sử dụng các động từ mạnh đã gợi ra trước mắt người đọc một phong cảch thiên nhiên tươi sáng, vừa là bức tranh lao động đầy hứng khởi và dạt dào sức sống của người dân làng chài

  • B Ming_ đã trả lời trong câu hỏi: Viết đoạn văn cảm nhận khổ thơ cuối bài Quê Hương Cách đây 2 tuần

    Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

    Màu nước xanh, cá bạc, chiếc thuyền vôi

    Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi

    Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá

     

    Nếu không có mấy câu thơ này, có lẽ ta không biết nhà thơ đang xa quê. ta thấy được một khung cảnh vô cùng sống động trước mắt chúng ta, vậy mà nó lại được viết ra từ tâm tưởng một cậu học trò. từ đó ta có thể nhận ra rằng quê hương luôn nằm trong tiềm thức nhà thơ, quê hương luôn hiện hình trong từng suy nghĩ, từng dòng cảm xúc. Nối nhớ quê hương thiết tha bật ra thành những lời nói vô cùng giản dị: “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá”. Quê hương là mùi biển mặn nồng, quê hương là con nước xanh, là màu cá bạc, là cánh buồm vôi. Màu của quê hương là những màu tươi sáng nhất, gần gũi nhất. Tế Hanh yêu nhất những hương vị đặc trưng quê hương đầy sức quyến rũ và ngọt ngào. Chất thơ của Tế Hanh bình dị như con người ông, bình dị như những người dân quê ông, khoẻ khoắn và sâu lắng. Từ đó toát lên bức tranh thiên nhiên tươi sáng, thơ mộng và hùng tráng từ đời sống lao động hàng ngày của người dân.

  •  

    Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang

    Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

    Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.

     

     

    Khi ra khơi chiếc thuyền với cái khoang còn trống rỗng. Hình ảnh con thuyền được tác giả so sánh với con “tuấn mã”, khỏe mạnh, kiên cường đầy sức lực, đang hăm hở lên đường. Tính từ “hăng” đã diễn đạt đầy đủ sự hăm hở đó. Cùng với động từ mạnh “phăng”, “vượt” đã khắc họa ấn tượng về sự dũng mãnh của con thuyền vượt song ra khơi. “Vượt trường giang” là cái vượt xa, vượt dài, cần có sức lực mạnh mẽ. Hai câu thơ Tế Hanh dùng biện pháp so sánh, những động từ mạnh đã vẽ lên hình ảnh con thuyền đầy khí thế khi ra khơi, đón biển bằng tất cả sức mạnh, sẵn sàng vượt lên trên thách thức của biển khơi. Hai câu thơ góp phần tạo nên không khí ra khơi cho người dân làng chài, và không nhắc nhiều đến hình ảnh người dân nhưng dường như con thuyền đã thay họ làm công việc đó.Tế Hanh dành hai câu thơ để nói về hình ảnh cánh buồm. Vẫn sử dụng lối nói so sánh “ Cánh buồm” như “mảnh hồn làng” thông qua động từ “giương”, cánh buồm trở nên lớn lao, gần gũi với người miền biển, đây cũng là cách so sánh hết sức độc đáo của nhà thơ. “Cánh buồm” là sự vật cụ thể, hữu hình ví với “mảnh hồn làng”, trừu tượng, được cảm nhận bằng tâm tưởng, cánh buồm ra khơi hay người dân chài cũng đang vươn mình bằng tất cả sức mạnh của bản thân để : “rướn thân trắng bao la thâu góp gió”.

  • B Ming_ đã trả lời trong câu hỏi: Phân biệt đặc điểm của các thể loại nghị luận trung đại Cách đây 2 tuần

    Mở bài:

    - Dẫn dắt vấn đề: Truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

    - Nêu vấn đề: ý thức độc lập và tinh thần tự hào dân tộc trong "Chiếu dời đô" (Lý Công Uẩn), "Hịch tướng sĩ" (Trần Quốc Tuấn) và "Nước Đại Việt ta" ("Bình Ngô đại cáo" - Nguyễn Trãi).

    Thân bài:

    *Sự phát triển của ý thức độc lập và tinh thần tự hào dân tộc trong:"Chiếu dời đô", "Hịch tướng sĩ" và "Nước Đại Việt ta" là sự phát triển liên tục, ngày càng phong phú, sâu sắc và toàn diện hơn.

    a. Trước hết là ý thức về quốc gia độc lập, thống nhất với việc dời đô ra chốn trung tâm thắng địa ở thế kỉ XI (Chiếu dời đô).

    - Khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, vững bền, đời sống nhân dân thanh bình, triều đại thịnh trị:

    + Thể hiện ở mục đích của việc dời đô.

    + Thể hiện ở cách nhìn về mối quan hệ giữa triều đại, đất nước và nhân dân.

    - Khí phách của một dân tộc tự cường:

    + Thống nhất giang sơn về một mối.

    + Khẳng định tư cách độc lập ngang hàng với phong kiến phương Bắc.

    + Niềm tin và tương lai bền vững muôn đời của đất nước.

    b. Sự phát triển của ý thức độc lập và tinh thần tự hào dân tộc được phát triển cao hơn thành quyết tâm chiến đấu, chiến thắng ngoại xâm để bảo toàn giang sơn xã tắc ở thế lỉ XIII (Hịch tướng sĩ).

    - Lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc:

    + Ý chí xả thân cứu nước...

    - Tinh thần quyết chiến, quyết thắng:

    + Nâng cao tinh thần cảnh giác, tích cực chăm lo luyện tập võ nghệ.

    + Quyết tâm đánh giặc Mông - Nguyên vì sự sống còn và niềm vinh quang của dân tộc.

    c. Ý thức độc lập và tinh thần tự hào dân tộc được phát triển cao nhất qua tư tưởng nhân nghĩa vì dân trừ bạo và quan niệm toàn diện sâu sắc về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt (Nước Đại Việt ta).

    - Nêu cao tư tưởng "nhân nghĩa", vì dân trừ bạo...

    - Chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc:

    + Có nền văn hiến lâu đời.

    + Có cương vực lãnh thổ riêng.

    + Có phong tục tập quán riêng.

    + Có lịch sử trải qua nhiều triều đại.

    + Có chế độ chủ quyền riêng với nhiều anh hùng hào kiệt.

    Tất cả tạo nên tầm vóc và sức mạnh Đại Việt để đánh bại mọi âm mưu xâm lược, lập nên bao chiến công oanh liệt...

    Kết bài:.

    - Khẳng định vấn đề...

     

    - Suy nghĩ của bản thân....

  • B Ming_ đã trả lời trong câu hỏi: Phân biệt đặc điểm của các thể loại nghị luận trung đại Cách đây 2 tuần

    Mở bài:

    - Dẫn dắt vấn đề: Truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

    - Nêu vấn đề: ý thức độc lập và tinh thần tự hào dân tộc trong "Chiếu dời đô" (Lý Công Uẩn), "Hịch tướng sĩ" (Trần Quốc Tuấn) và "Nước Đại Việt ta" ("Bình Ngô đại cáo" - Nguyễn Trãi).

    Thân bài:

    *Sự phát triển của ý thức độc lập và tinh thần tự hào dân tộc trong:"Chiếu dời đô", "Hịch tướng sĩ" và "Nước Đại Việt ta" là sự phát triển liên tục, ngày càng phong phú, sâu sắc và toàn diện hơn.

    a. Trước hết là ý thức về quốc gia độc lập, thống nhất với việc dời đô ra chốn trung tâm thắng địa ở thế kỉ XI (Chiếu dời đô).

    - Khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, vững bền, đời sống nhân dân thanh bình, triều đại thịnh trị:

    + Thể hiện ở mục đích của việc dời đô.

    + Thể hiện ở cách nhìn về mối quan hệ giữa triều đại, đất nước và nhân dân.

    - Khí phách của một dân tộc tự cường:

    + Thống nhất giang sơn về một mối.

    + Khẳng định tư cách độc lập ngang hàng với phong kiến phương Bắc.

    + Niềm tin và tương lai bền vững muôn đời của đất nước.

    b. Sự phát triển của ý thức độc lập và tinh thần tự hào dân tộc được phát triển cao hơn thành quyết tâm chiến đấu, chiến thắng ngoại xâm để bảo toàn giang sơn xã tắc ở thế lỉ XIII (Hịch tướng sĩ).

    - Lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc:

    + Ý chí xả thân cứu nước...

    - Tinh thần quyết chiến, quyết thắng:

    + Nâng cao tinh thần cảnh giác, tích cực chăm lo luyện tập võ nghệ.

    + Quyết tâm đánh giặc Mông - Nguyên vì sự sống còn và niềm vinh quang của dân tộc.

    c. Ý thức độc lập và tinh thần tự hào dân tộc được phát triển cao nhất qua tư tưởng nhân nghĩa vì dân trừ bạo và quan niệm toàn diện sâu sắc về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt (Nước Đại Việt ta).

    - Nêu cao tư tưởng "nhân nghĩa", vì dân trừ bạo...

    - Chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc:

    + Có nền văn hiến lâu đời.

    + Có cương vực lãnh thổ riêng.

    + Có phong tục tập quán riêng.

    + Có lịch sử trải qua nhiều triều đại.

    + Có chế độ chủ quyền riêng với nhiều anh hùng hào kiệt.

    Tất cả tạo nên tầm vóc và sức mạnh Đại Việt để đánh bại mọi âm mưu xâm lược, lập nên bao chiến công oanh liệt...

    Kết bài:.

    - Khẳng định vấn đề...

     

    - Suy nghĩ của bản thân....

  • B Ming_ đã trả lời trong câu hỏi: Phân biệt đặc điểm của các thể loại nghị luận trung đại Cách đây 2 tuần

     

     

    a. Chủ nghĩa yêu nước:

     

    Văn hóa Ðại Việt, văn chương Ðại Việt khởi nguồn từ truyền thống sản xuất và chiến đấu của tổ tiên, từ những thành tựu văn hóa và từ chính thực tiễn hàng nghìn năm đấu tranh chống giặc ngoại xâm phương Bắc.

     

    Hiếm thấy một dân tộc nào trên thế giới lại phải liên tục tiến hành những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm như dân tộc Việt Nam. Nhà Tiền Lê, nhà Lý chống Tống. Nhà Trần chống Nguyên Mông. Nhà Hậu Lê chống giặc Minh. Quang Trung chống giặc Thanh. Những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại được tiến hành trong trường kỳ lịch sử nhằm bảo vệ nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc không những tôi luyện bản lĩnh dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tin, khí thế hào hùng của dân tộc mà còn góp phần làm nên một truyền thống lớn trong văn học Việt Nam: Chủ nghĩa yêu nước.

     

    Ðặc điểm lịch sử đó đã quy định cho hướng phát triển của văn học là phải luôn quan tâm đến việc ca ngợi ý chí quật cường, khát vọng chiến đấu, chiến thắng, lòng căm thù giặc sâu sắc, ý thức trách nhiệm của những tấm gương yêu nước, những người anh hùng dân tộc quên thân mình vì nghĩa lớn. Có thể nói, đặc điểm này phản ánh rõ nét nhất mối quan hệ biện chứng giữa lịch sử dân tộc và văn học dân tộc.

     

    Quá trình đấu tranh giữ nước tác động sâu sắc đến sự phát triển của văn học, bồi đắp, phát triển ý thức tự hào dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ. Cho nên, chế độ phong kiến có thể hưng thịnh hay suy vong nhưng ý thức dân tộc, nội dung yêu nước trong văn học vẫn phát triển không ngừng.

     

    Các tác phẩm văn học yêu nước thời kỳ này thường tập trung thể hiện một số khía cạnh tiêu biểu như:

     

    - Tình yêu quê hương

     

    - Lòng căm thù giặc

     

    - Yï thức trách nhiệm

     

    - Tinh thần vượt khó, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc

     

    - Ý chí quyết chiến, quyết thắng

     

    - Ðề cao chính nghĩa của người Việt Nam trong những cuộc kháng chiến.

     

    b. Chủ nghĩa nhân đạo

     

    Văn học do con người sáng tạo nên và tất yếu nó phải phục vụ trở lại cho con người. Vì vậy, tinh thần nhân đạo là một phẩm chất cần có để một tác phẩm trở thành bất tử đối với nhân loại. Ðiều này cũng có nghĩa là, trong xu hướng phát triển chung của văn học nhân loại, VHTÐVN vẫn hướng tới việc thể hiện những vấn đề của chủ nghĩa nhân đạo như:

     

    - Khát vọng hòa bình

     

    - Nhận thức ngày càng sâu sắc về nhân dân mà trước hết là đối với những tầng lớp thấp hèn trong xã hội phân chia giai cấp

     

    - Ðấu tranh cho hạnh phúc, cho quyền sống của con người, chống lại ách thống trị của chế độ phong kiến.

     

    - Ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động

     

     

    - Tố cáo mạnh mẽ và đấu tranh chống những thế lực phi nhân.

  • B Ming_ đã trả lời trong câu hỏi: Phân biệt đặc điểm của các thể loại nghị luận trung đại Cách đây 2 tuần

     

     

    a. Chủ nghĩa yêu nước:

     

    Văn hóa Ðại Việt, văn chương Ðại Việt khởi nguồn từ truyền thống sản xuất và chiến đấu của tổ tiên, từ những thành tựu văn hóa và từ chính thực tiễn hàng nghìn năm đấu tranh chống giặc ngoại xâm phương Bắc.

     

    Hiếm thấy một dân tộc nào trên thế giới lại phải liên tục tiến hành những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm như dân tộc Việt Nam. Nhà Tiền Lê, nhà Lý chống Tống. Nhà Trần chống Nguyên Mông. Nhà Hậu Lê chống giặc Minh. Quang Trung chống giặc Thanh. Những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại được tiến hành trong trường kỳ lịch sử nhằm bảo vệ nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc không những tôi luyện bản lĩnh dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tin, khí thế hào hùng của dân tộc mà còn góp phần làm nên một truyền thống lớn trong văn học Việt Nam: Chủ nghĩa yêu nước.

     

    Ðặc điểm lịch sử đó đã quy định cho hướng phát triển của văn học là phải luôn quan tâm đến việc ca ngợi ý chí quật cường, khát vọng chiến đấu, chiến thắng, lòng căm thù giặc sâu sắc, ý thức trách nhiệm của những tấm gương yêu nước, những người anh hùng dân tộc quên thân mình vì nghĩa lớn. Có thể nói, đặc điểm này phản ánh rõ nét nhất mối quan hệ biện chứng giữa lịch sử dân tộc và văn học dân tộc.

     

    Quá trình đấu tranh giữ nước tác động sâu sắc đến sự phát triển của văn học, bồi đắp, phát triển ý thức tự hào dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ. Cho nên, chế độ phong kiến có thể hưng thịnh hay suy vong nhưng ý thức dân tộc, nội dung yêu nước trong văn học vẫn phát triển không ngừng.

     

    Các tác phẩm văn học yêu nước thời kỳ này thường tập trung thể hiện một số khía cạnh tiêu biểu như:

     

    - Tình yêu quê hương

     

    - Lòng căm thù giặc

     

    - Yï thức trách nhiệm

     

    - Tinh thần vượt khó, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc

     

    - Ý chí quyết chiến, quyết thắng

     

    - Ðề cao chính nghĩa của người Việt Nam trong những cuộc kháng chiến.

     

    b. Chủ nghĩa nhân đạo

     

    Văn học do con người sáng tạo nên và tất yếu nó phải phục vụ trở lại cho con người. Vì vậy, tinh thần nhân đạo là một phẩm chất cần có để một tác phẩm trở thành bất tử đối với nhân loại. Ðiều này cũng có nghĩa là, trong xu hướng phát triển chung của văn học nhân loại, VHTÐVN vẫn hướng tới việc thể hiện những vấn đề của chủ nghĩa nhân đạo như:

     

    - Khát vọng hòa bình

     

    - Nhận thức ngày càng sâu sắc về nhân dân mà trước hết là đối với những tầng lớp thấp hèn trong xã hội phân chia giai cấp

     

    - Ðấu tranh cho hạnh phúc, cho quyền sống của con người, chống lại ách thống trị của chế độ phong kiến.

     

    - Ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động

     

     

    - Tố cáo mạnh mẽ và đấu tranh chống những thế lực phi nhân.

Điểm thưởng gần đây (1234)

  • B Ming_: trả lời câu hỏi, user trả lời được +5 (+5đ) Cách đây 2 tuần
  • B Ming_: trả lời câu hỏi, user trả lời được +5 (+5đ) Cách đây 2 tuần
  • B Ming_: trả lời câu hỏi, user trả lời được +5 (+5đ) Cách đây 2 tuần
  • B Ming_: trả lời câu hỏi, user trả lời được +5 (+5đ) Cách đây 2 tuần
  • B Ming_: trả lời câu hỏi, user trả lời được +5 (+5đ) Cách đây 2 tuần
  • B Ming_: trả lời câu hỏi, user trả lời được +5 (+5đ) Cách đây 2 tuần
  • B Ming_: trả lời câu hỏi, user trả lời được +5 (+5đ) Cách đây 2 tuần
  • B Ming_: trả lời câu hỏi, user trả lời được +5 (+5đ) Cách đây 2 tuần
  • B Ming_: trả lời câu hỏi, user trả lời được +5 (+5đ) Cách đây 2 tuần
  • B Ming_: trả lời câu hỏi, user trả lời được +5 (+5đ) Cách đây 3 tuần