ADMICRO

Soạn bài Truyện Kiều - Phần Nỗi thương mình - Ngữ văn 10

Qua phần hướng dẫn học bài, giúp các em những nội dung cơ bản cũng như những đặc sắc nghệ thuật trong đọa trích "Nỗi thương mình" của Nguyễn Du.

 

1. Tóm tắt nội dung bài học

  • Qua đoạn trích giúp các em cảm nhận được bi kịch tình yêu và cuộc đời, nỗi thương thân và sự ý thức cao về nhân phẩm của Kiều. Bên cạnh đó, giúp các em thấy được sự tài hoa trong việc sử dụng các phép tu từ linh hoạt, hiệu quả; hình thức đối xứng của Nguyễn Du.

2. Soạn bài Truyện Kiều - Phần Nỗi thương mình chương trình chuẩn

Câu 1: Vị trí và bố cục đoạn trích

  • Bố cục gồm 3 đoạn
    • Đoạn 1 (từ đầu đến "Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh"): giới thiệu khái quát cuộc sống ở lầu xanh và tình cảnh trớ trêu của Thúy Kiều.
    • Đoạn 2 (tiếp đến "Những mình nào biết có xuân là gì"): thể hiện tâm trạng cô đơn, chán ngán của Thúy Kiều khi phải sống trong cảnh cay đắng, nhơ nhuốc ở lầu xanh.
    • Đoạn 3 (còn lại): Nguyễn Du dùng cảnh vật để diễn tả tâm trạng cô đơn, đau khổ của Thúy Kiều.

Câu 2: Ý nghĩa của việc sử dụng bút pháp ước lệ trong đoạn trích? Qua đó, có thế nói gì về tình cảm của tác giả đối với nhân vật?

  • Bút pháp ước lệ là cách dùng các hình ảnh ẩn dụ, các điển tích, điển cố như: "bướm lả ong lơi"; "lá gió cành chim"; "Tống Ngọc, Trường Khanh", "mưa Sở, mây Tần".  
  • Ý nghĩa:
    • Giúp cho Nguyễn Du miêu tả chốn "bụi trần" dơ bẩn mà câu thơ vẫn thanh cao, trang nhã.
  • Tình cảm của Nguyễn Du dối với Kiều:
    • Với việc sử dụng bút pháp ước lệ, tác giả đã miêu tả chốn lầu xanh mà không hề dung tục. Điều đó không phải là sự né tránh hiện thực nghiệt ngã mà nhân vật đang phải trải qua. Ngược lại Nguyễn Du giữ cho nhân vật của mình chân dung cao đẹp. Không những thế, bằng cách khắc họa tâm trạng, thái độ của Kiều, nhà thơ đã làm cho chân dung nàng trở nên ngời sáng giữa chốn bùn nhơ.

Câu 3: Cho biết những dạng thức đối xứng khác nhau được sử dụng trong đoạn trích và giá trị nghệ thuật của chúng

  • Đối xứng trong 4 chữ: "bướm lả - ong lơi"; "lá gió – cành chim"; "dày gió - dạn sương"; "bướm chán - ong chườngơ"; "mưa Sở - mây Tần"; "gió tựa - hoa kề".

→ Hình thức này góp phần làm nổi bật thân phận bẽ bang của người kĩ nữ, và cảm giác đau đớn, xót xa của nhân vật.

  • Tiểu đối trong khuôn khổ 1 câu thơ: "Khi tỉnh rượu - lúc tàn canh"; "Nửa rèm tuyết ngậm - bốn bề trăng thâu"

→ Nhấn mạnh sự liên tục, kéo dài của sự vật hay cái mênh mông của không gian.

  • Đối xứng giữa 2 câu lục bát
    • "Khi sao phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường": Đối lập gay gắt giữa quá khứ êm đềm và hiện tại đầy nghiệt ngã.
    • "Mặt sao dày gió dạn sương/ Thân sao bướm chán ong chường bấy thân": Nhấn mạnh có ý so sánh → Nỗi đau về sự nhuốc nhơ của thân thể còn đau khổ hơn là sự bẽ bàng chua chát trên vẻ mặt.
    • "Mặc người mây Sở, mưa Tần / Những mình nào biết có xuân là gì": Đối lập, mang nghĩa so sánh giữa người và chính mình.

⇒ Tạo nên cái nhìn đa chiều về nỗi niềm thương thân xót phận của nhân vật.

Câu 4: "Nỗi thương mình" của nhân vật có ý nghĩa mới mẻ như thế nào đối với văn học trung đại?

  • "Nỗi thương mình" của nhân vật có ý nghĩa sâu sắc, mới mẻ khi đặt trong nền vãn học trung đại.
    • Đây là sự tự ý thức về cá nhân trong mọi thời đại mà cái cá nhân có xu hướng triệt tiêu. Hơn nữa, đây lại là ý thức cá nhân của một người phụ nữ, đối tượng được giáo dục theo tinh thần "tam tòng" an phận thủ thường, cam chịu, nhẫn nhục. Sự tự ý thức về bản thân của nàng Kiều có ý nghĩa "cách mạng". Con người không chỉ biết hi sinh, nhẫn nhục, cam chịu mà còn biết ý thức về phẩm giá, nhân cách bản thân.
    • Cảm hứng thương xót bản thân không chỉ thấy ở nhân vật của Nguyễn Du mà còn thấy ở người cung nữ trong Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều, người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm và người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương... Có thể nói, văn học trung đại đến cuối thê kỉ XVIII, ý thức cá nhân đã trở thành một hiện tượng khá phổ biến. Nhưng ở những sáng tác của Nguyễn Du, đặc biệt là Truyện Kiều, vấn đề này được biểu hiện thấm thìa hơn. "Bản ngã" của nhân vật và của chính người nghệ sĩ đã được Nguyễn Du biểu hiện như một nét độc đáo, sâu sắc trong tư tưởng nhân đạo của mình.

Câu 5: Trong cuộc tái ngộ, Kim Trọng nói với Kiều: ”Như nàng lấy hiếu làm trinh/ Bụi nào cho đục được mình ấy vay?”. Theo anh (chị) đoạn trích này có thể góp phần lí giải câu nói đó như thế nào?

  • Khi nhận xét về Truyện Kiều, đã có nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh lời khen của chàng Kim đối với Thúy Kiều trong màn tái ngộ:

"Như nàng lấy hiếu làm trinh,
Bụi nào cho đục được mình ấy vay".

Thực ra đây là cuộc tranh luận diễn ra trong một thời gian khá dài về việc Thúy Kiều “trinh” hay “dâm”. Cuộc tranh luận cuối cùng cũng đã ngã ngũ với phần đông độc giả ủng hộ quan niệm tiến bộ của chàng Kim khi đánh giá về Thúy Kiều. Khách quan là vậy. Song có thể thấy rằng, ngay trong quan niệm của Nguyễn Du, ngay trong đoạn trích này, tâm hồn của Thúy Kiều vẫn ánh lên vẻ đẹp của sự cao thượng, trắng trong dù nàng đã từng phải sống giữa chốn tanh bẩn, nhơ nhuốc. Nguyễn Du đã không né tránh thực tế nghiệt ngã, nhưng nhà thơ nhân đạo vĩ đại đã đề cao nhân cách của Kiều, phẩm giá của Kiều khi diễn tả một cách sâu sắc nỗi buồn, nỗi đau khổ và chán chường của nàng khi phải cam phận lưu đày giữa chốn lầu xanh.

3. Soạn bài Truyện Kiều - Phần Nỗi thương mình chương trình Nâng cao

Câu 1: Đoạn trích có thể chia làm mấy đoạn nhỏ? Nêu ý chính của mỗi đoạn. 

Gợi ý:

  • Phần 1: 4 câu đầu: Cảnh sống ở lầu xanh
  • Phần 2: 8 câu tiếp :Tâm trạng, nỗi niềm của Kiều.
  • Phần 3: 8 câu cuối :Bi kịch tâm trạng của Thúy Kiều.

Câu 2: Trong đoạn 1, cảnh sống ở lầu xanh của Kiều được miêu tả như thế nào và tâm trạng nàng trước cảnh sống ấy ra sao? (Chú ý hai chữ "giật mình" và một loạt những câu hỏi của Kiều).

Gợi ý:

  • Bốn câu thơ đầu đã đặt ra 1 tình thế của tâm trạng, ở lầu xanh có nhiều kĩ nữ, họ có thể coi việc làm của mình là rất đỗi bình thường nhưng Kiều lại có 1 nhân phẩm quá đỗi cao đẹp như bông hoa từ cảnh sống “êm đềm trướng rủ màn che” bỗng nhiên bị ném vào bùn nhơ. 
  • Thúy Kiều giật mình nhận ra sự cô đơn, nhục nhã của mình trong cảnh sống nhơ nhớp, lúc đó nàng ý thức sâu sắc về nhân phẩm của mình.

    • Giật mình: bàng hoàng, ngơ ngác, thảng thốt trước thực tại

    • Thương mình: Ý thức về nhân cách, phẩm giá và quyền sống của bản thân. Đó là giọt nước mắt nuốt vào trong gan ruột thấm thía, xót xa.

    • Xót xa: sự đau đớn, ấm ức của tâm hồn.

Câu 3: Phân tích thái độ của Kiều trước thú vui của khách trong đoạn 2.

Gợi ý:

  • Tâm trạng chán chường, mỏi mệt, ghê sợ chính bản thân khi bị đẩy vào hoàn cảnh trớ trêu.
    • Những tháng ngày ê chề, nhục nhã của Kiều trong vai trò kĩ nữ - gái làng chơi, đem tấm thân mình mua vui cho những kẻ lắm tiền háo sắc. Những ngày ở chốn lầu xanh là những ngày nàng vô cùng buồn tủi, tâm trạng rối bời như tơ vò khi nghĩ về thân phận, sự tủi nhục của kiếp hồng nhan. 

Câu 4: Chỉ ra những câu thơ trong đoạn trích thể hiện khái quát tâm sự "thương mình xót xa" và nhân cách của Kiều.

Gợi ý:

  • Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,

Giật mình mình lại thương mình xót xa.

  • Khi sao phong gấm rũ là,

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?

  • Mặt sao dày gió dạn sương, 

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!

Câu 5: Trong đoạn trích, tác giả dùng nhiều điệp từ, phép sóng đôi, nhiều dạng tiểu đối có giá trị biểu cảm đặc sắc. Hãy chỉ ra các trường hợp đó và phân tích giá trị nghệ thuật của chúng trong việc miêu tả nội tâm nhân vật.

Gợi ý:

  • Điệp từ: "Giật mình mình lại thương mình xót xa": ba chữ “mình” trong câu thơ diễn tả nỗi cô đơn cùng cực của nàng Kiều, như một tiếng nấc đan xen lẫn tiếng thở dài, diễn đạt nỗi đau mà chỉ một mình Thúy Kiều biết, cảm nhận. Nỗi đau đó không thể san sẻ cùng ai.
  • Đối xứng
    • Lá gió >< Cành chim; Sớm đưa Tống Ngọc >< Tối tìm Trường Khanh: Cho thấy người kĩ nữ phải tiếp khách bốn phương. Tác giả sử dụng tả thực nhưng vẫn giữ được hình ảnh của Kiều.
    • Tách từ, tiểu đối, đối xứng: Tô đậm thân phận bẽ bàng, nhấn mạnh hiện thực trớ trêu: cuộc sống nhục nhã, ê chề kéo dài ở lầu xanh.
  • Các cặp tiểu đối, đối xứng làm tô đậm cuộc sống hiện tại đầy tủi nhục, ê chề, tâm trạng chán chường, mỏi mệt, ghê sợ chính bản thân khi bị đẩy vào hoàn cảnh trớ trêu.
    • Từ "Sao" kết hợp với các thành ngữ tạo thành giọng thơ chán ngán, buồn khổ.

4. Một số bài văn mẫu về bài Truyện Kiều - Phần Nỗi thương mình

Đoạn trích Nỗi thương mình đã tái hiện những giai đoạn đầy đau khổ trong cả cuộc đời dằng dặc những thương đau của Thúy Kiều. Qua đoạn trích, Nguyễn Du đã lên tiếng bênh vực quyền sống chính đáng của người phụ nữ và gián tiếp phê phán xã hội đầy ải họ gặp phải những oan khiên, bất hạnh. Để nắm vững nội dung bài học cũng như dễ dàng viết hoàn chỉnh các bài văn phân tích về tác phẩm này, các em có thể tham khảo một số bài văn mẫu dưới đây:

5. Hỏi đáp về bài Truyện Kiều - Phần Nỗi thương mình

Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em. 

 
 

 

YOMEDIA
1=>1
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_picture] => 4_1603079338.jpg
            [banner_picture2] => 
            [banner_picture3] => 
            [banner_picture4] => 
            [banner_picture5] => 
            [banner_link] => https://tracnghiem.net/de-kiem-tra/?utm_source=Hoc247&utm_medium=Banner&utm_campaign=PopupPC
            [banner_startdate] => 2020-10-19 00:00:00
            [banner_enddate] => 2020-10-31 23:59:00
            [banner_embed] => 
            [banner_date] => 
            [banner_time] => 
        )

)