ON
YOMEDIA

Đề cương ôn tập HK1 môn Ngữ văn 11 năm 2020 đầy đủ và chi tiết nhất

Tải về
VIDEO

Đề cương ôn tập HK1 môn Ngữ văn 11 năm 2020 đầy đủ và chi tiết nhất dưới đây nhằm giúp các em hệ thống lại kiến thức đã học, đồng thời vận dụng giải bài tập để chuẩn bị tốt cho kì thi sắp tới. Hoc247 mời các em tham khảo đề cương dưới đây nhé, chúc các em học tập tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới.

 
 
YOMEDIA

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HK1 MÔN NGỮ VĂN 11

A. ĐỀ CƯƠNG

I. Tiếng Việt:

1.  Ngữ cảnh là gì? Các nhân tố của ngữ cảnh? Vai trò của ngữ cảnh?

2 . Thế nào là ngôn ngữ báo chí? Các thể loại báo chí? Đặc trưng của ngôn ngữ báo chí?

3 .Chức năng của ngôn ngữ báo chí là gì?                                                                                                         

II. Làm văn:

1. Lập luận phân tích là gì?

2. Tác dụng của lập luận  phân tích trong văn nghị luận?

3. Phỏng vấn là gì? Trước cuộc phỏng vấn người phỏng vấn cần chuẩn bị như thế nào?

III. Văn học:

1. Phân tích tâm trạng của Hồ Xuân Hương qua bài: Tự tình(Bài II).

2. Nêu cảm nhận về cảnh thu và tình thu trong bài: Câu cá mùa thu(Thu điếu) của Nguyễn Khuyến.

3. Vì sao chị em Liên ( trong truyện ngắn Hai đứa trẻ ) của Thạch Lam cố thức để đợi chuyến tàu đêm đi qua? Qua đó tác giả muốn nói điều gì?

Hãy phân tích vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “ Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân?

4. Phân tích nghệ thuật trào phúng qua đoạn trích: “Hạnh phúc của một tang gia”(Trích Số đỏ) của Vũ Trọng Phụng?

5. Bi kịch của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm” Chí Phèo” của Nam Cao?

B. ĐÁP ÁN ĐỀ CƯƠNG

I. Tiếng Việt:

1. Câu 1:

- Ngữ cảnh là bối cảnh lời nói, ở đó người nói (người viết) tạo ra lời nói thích ứng, còn người nghe (người đọc) căn cứ vào đó để hiểu đúng ý.

- Các nhân tố của ngữ cảnh:

+ Nhân vật giao tiếp.

+ Bối cảnh ngoài ngôn ngữ.

+ Văn cảnh.

- Vai trò của ngữ cảnh: tạo lập câu và lĩnh hội câu.

2. Câu 2:

- Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ  dùng để  thông báo tin tức thời sự trong nước và quốc tế, phản ánh chính kiến của tờ báo và dư  luận  quần chúng, nhằm thúc đẩy sự  tiến bộ của xã hội.

- Các thể loại báo chí: Bản  tin, phóng sự, tiểu phẩm, quảng cáo….

- Đặc trưng của ngôn ngữ báo chí:

+ Tính thông tin thời sự.

+ Tính ngắn gọn.

+ Tính sinh động hấp dẫn.

3. Câu 3:

Chức năng của ngôn ngữ báo chí: thông tin thời sự, phản ánh dư luận và ý kiến của quần chúng đồng thời nêu lên quan điểm chính kiến của tờ báo nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

II. Làm văn:

1. Câu 1:

Lập luận phân tích là thao tác chia nhỏ các đối tượng thành các yếu tố bộ phận để xem xét rồi tổng hợp nhằm phát hiện ra bản chất của đối tượng.

2. Câu 2:

Tác dụng của lập luận trong văn nghị luận:

Nhằm làm sáng tỏ đối tượng đang nghiên cứu trong tương quan với đối tượng khác làm cho bài nghị luận rõ ràng, cụ thể, sinh động và có sức thuyết phục.

3. Câu 3:

Phỏng vấn là một cuộc hỏi đáp có mục đích nhằm thu thập thông tin hoặc cung cấp thông tin về một chủ đề quan tâm.

Trước cuộc phỏng vấn người phỏng vấn cần xác định rõ mục đích phỏng vấn, có sự hiểu biết nhất định về đối tượng phỏng vấn từ đó xây dựng một đề cương phỏng vấn với hệ thống câu hỏi thích hợp.

III. Văn học: Dàn ý sơ lược.

1. Câu 1: Tâm trạng của Hồ Xuân Hương qua bài: Tự tình (Bài II).

a. Hai câu đề.

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non”.

---> Hình ảnh một con người cô đơn ngồi một mình trong đêm khuya, cộng vào đó là tiếng trống canh báo hiệu sự trôi chảy của thời gian.

--> Cách dùng từ: Cụ thể hóa, đồ vật hóa, rẻ rúng hóa cuộc đời của chính mình.

--> Câu thơ ngắt làm 3 như một sự chì chiết, bẽ bàng, buồn bực. Cái hồng nhan ấy không được quân tử yêu thương mà lại vô duyên, vô nghĩa, trơ lì ra với nước non.

àHai câu thơ tạc vào không gian, thời gian hình tượng một người đàn bà trầm uất, đang đối diện với chính mình.

b. Hai câu thực.

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”.

- Uống rượu mong giải sầu nhưng không được, Say lại tỉnh. tỉnh càng buồn hơn.

- Hình ảnh người phụ nữ uống rượu một mình giữa đêm trăng, đem chính cái hồng nhan của mình ra làm thức nhấm, để rồi sững sờ phát hiện ra rằng trong cuộc đời mình không có cái gì là viên mãn cả, đều dang dở, muộn màng.

- Hai câu đối thanh nghịch ý: Người say lại tỉnh >< trăng khuyết vẫn khuyết à tức, bởi con người muốn thay đổi mà hoàn cảnh cứ ỳ ra à vô cùng cô đơn, buồn và tuyệt vọng.

c. Hai câu luận.

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”.

- Động từ mạnh: Xiên ngang, đâm toạc-> Tả cảnh thiên nhiên kì lạ phi thường, đầy sức sống: Muốn phá phách, tung hoành - cá tính Hồ Xuân Hương: Mạnh mẽ, quyết liệt, tìm mọi cách vượt lên số phận.

- Phép đảo ngữ và nghệ thuật đối: Sự phẫn uất của thân phận rêu đá, cũng là sự phẫn uất, phản kháng của tâm trạng nhân vật trữ tình.

d. Hai câu kết.

“Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con”.

- Hai câu kết khép lại lời tự tình.

àNỗi đau về thân phận lẽ mọn, ngán ngẩm về tuổi xuân qua đi không trở lại, nhưng mùa xuân của đất trời vẫn cứ tuần hoàn.

à Nỗi đau của con người lâm vào cảnh phải chia sẻ cái không thể chia sẻ:

Mảnh tình - san sẻ - tí - con con.

à Câu thơ nát vụn ra, vật vã đến nhức nhối vì cái duyên tình hẩm hiu, lận đận của nhà thơ. Càng gắng gượng vươn lên càng rơi vào bi kịch.

=> Với cách sử dụng từ ngữ sáng tạo giàu sức biểu cảm, kết hợp với các biện pháp nghệ thuật: đảo từ, đối, động từ mạnh, xây dựng hình ảnh độc đáo…Bài thơ thể hiện tâm trạng, thái độ: vùa đau buồn, vừa phẫn uất cho duyên phận hẫm hiu, bẽ bàng nhưng vẫn không thôi khát vọng hạnh phúc

2. Câu 2 : cảnh thu và tình thu trong bài: Câu cá mùa thu(Thu điếu) của Nguyễn Khuyến.

a.  Cảnh thu:

- Điểm nhìn từ trên thuyền câu -> nhìn ra mặt ao nhìn lên bầu trời -> nhìn tới ngõ vắng -> trở về với ao thu( khác với Thu vịnh )

-> Cảnh thu được đón nhận từ gần -> cao xa -> gần. Cảnh sắc thu theo nhiều hướng thật sinh động.

- Mang nét riêng của cảnh sắc mùa thu của làng quê Bắc bộ: Không khí dịu nhẹ, thanh sơ của cảnh vật:

+ Màu sắc: Trong veo, sóng biếc, xanh ngắt

+ Đường nét, chuyển động: Hơi gợn tí, khẽ đưa vèo, mây lơ lửng.

-> Hình ảnh thơ bình dị, thân thuộc, không chỉ thể hiện cái hồn của cảnh thu mà còn thể hiện cái hồn của cuộc sống ở nông thôn xưa.

"Cái thú vị của bài Thu điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh trúc, xanh trời, xanh bèo" ( Xuân Diệu ).

- Không gian thu tĩnh lặng, phảng phất buồn: Vắng teo, Trong veo, Khẽ đưa vèo, Hơi gợn tí, Mây lơ lửng.

- Đặc biệt câu thơ cuối tạo được một tiếng động duy nhất: Cá đâu đớp động dưới chân bèo

 -> không phá vỡ cái tĩnh lặng, mà ngược lại nó càng làm tăng  sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật

 -> Thủ pháp lấy động nói tĩnh.

b. Tình thu.

- Nói chuyện câu cá nhưng thực ra là để đón nhận cảnh thu, trời thu vào cõi lòng.

+ Một tâm thế nhàn: Tựa gối ôm cần

+ Một sự chờ đợi: Lâu chẳng được.

+ Một cái chợt tỉnh mơ hồ: Cá đâu đớp động..

- Không gian thu tĩnh lặng như sự tĩnh lặng trong tâm hồn nhà thơ, khiến ta cảm nhận về một nỗi cô đơn, man mác buồn, uẩn khúc trong cõi lòng thi nhân.

-> Nguyễn khuyến có một tâm hồn hồn gắn bó với thiên nhiên đất nước, một tấm lòng yêu nước thầm kín mà sâu sắc.

=> Bút pháp thủy mặc Đường thi và vẽ đẹp thi trung hữu họa của bức tranh phong cảnh; vận dụng tài tình nghệ thuật đối. Cảnh thu đẹp nhưng buồn và tĩnh lặng. Qua đó bộc lộ tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước và tâm sự thời thế của tác giả.

3.  Câu 3 : Chị em Liên thức để đợi chuyến tàu đêm đi qua..

  Liên và An  là hai đứa trẻ từng sống ở Hà Nội rồi gia đình thất cơ lỡ vận, phải chuyển về quê - một phố huyện hẻo lánh. Hai chị em được mẹ cho trông coi một cửa hàng tạp hoá bé xí. Ngày nao cũng giống hệt ngày nào, chúng chờ bán cho người ta những món hàng nhỏ bé, chiều chiều trong bóng tối chập choạng của hoàng hôn với tiếng ếch nhái ngoài đồng va tiếng muỗi vo ve trong nhà, hai chị em cặm cụi tính số tiền bé nhỏ bán được trong ngày. Thế giới xung quanh hai chị em Liên cũng thật tội  nghiệp. Đó là chị Tí ngày thì mò cua bắt ốc, tối đến dọn hàng nứơc dưới gốc cây bàng với ngọn đèn hoa kì leo lét. Đó là bà cụ Thi hơi điên, già nua với tiếng cười khanh khách. Đó là bác phở Siêu với gánh hàng phở là món quà xa xỉ của phố huyện nghèo. Đó là vợ chồng bác Xẩm góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu. Đó là mấy đứa trẻ con nhà nghèo đi nhặt thanh tre hay thanh nứa hoặc bất cứ  thứ gì có thể dùng được. Số phận của con người đều có một cái gì đó tàn lụi, không tương la, leo lét một cách tội nghiệp trong nghèo đói, buồn chán và tăm tối.

  Sống trong bóng tối, trong yên lặng, trong buồn chán, may mắn thay cuối cùng hai chị em Liên cũng tìm đựơc chút niềm vui để mong đợi, để hi vọng. Hai chị em Liên cố thức để được nhìn chuyến tàu đi qua vơí các em đó là cái mốc điểm bước đi của thời gian đang cho các em xích lại gần với chuyến tàu. Với các em chuyến  tàu  ấy là tất cả miền vui và hi vọng. Đó là Hà Nội trong quá khứ êm đềm xa xôi. Đó là niềm vui duy nhất để giải toả tâm trí sau một ngày mệt mỏi, đơn điệu và buồn chán. Đó là âm thanh, ánh sáng, vẻ lấp lánh của cuộc đời khác hoàn toàn không giống với cuộc đời nghèo nàn và tẻ nhạt nơi đây. Có lẽ qua truyện ngắn này, Thạch Lam muốn nói với chúng ta rằng : Có những cuộc đời mới đáng thương làm sao, có những ứơc mơ mới  nhỏ bé, tội nghiệp nhưng chân thành tha thiết và cảm động làm sao. Nhưng dẫu sao, sự chờ đợi của các em cũng cho chúng ta hiểu ra rằng : Trong cuộc đời, phải biết vượt lên cái tẻ nhạt, cái vô vị hàng ngày để mà hi vọng, dẫu hi vọng có nhỏ bé thì mới có thể còn gọi là sống là tồn tại. Hãy biết hy vọng, dừng chím đắm trong bóng tối. Một chút hi vọng nhỏ bé thôi cũng sẽ là một liều thuốc tiên giúp chúng  ta đứng dậy, trụ vững trong cuộc đời.

=> Cốt truyện đơn giản, nổi bật là những dòng tâm trạng chảy trôi, những cảm xúc, cảm giác mong manh mơ hồ trong tâm hồn nhân vật. Bút pháp tương phản, đối lập. Miêu tả sinh động những biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng con người. Ngôn ngữ, hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng. Giọng điệu thủ thỉ thấm đượm chất thơ, chất trữ tình sâu lắng;

 Truyện ngắn hai đứa trẻ thể hiện niềm cảm thương chân thành của Thạch Lam đối với những kiếp người nghèo khổ, chìm khuất trong mỏi mòn, tăm tối, quẩn quanh nơi phố huyện trước Cách mạng và sự trân trong với mong ước bé nhỏ, bình dị mà tha thiết của họ

--- Để xem tiếp phần đáp án của đề cương vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy---

Trên đây là một phần trích dẫn nội dung Đề cương ôn tập HK1 môn Ngữ văn 11 năm 2020. Để xem toàn bộ nội dung các em đăng nhập vào trang hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.

Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học sinh ôn tập tốt và đạt thành tích cao trong học tập.

Bên cạnh đó, các em có thể tham khảo thêm các tài liệu khác cùng chuyên mục:

Chúc các em học tập tốt!

 

 

 

YOMEDIA
1=>1