Bộ 7 đề kiểm tra 1 tiết HK2 môn Ngữ văn lớp 11 năm học 2018-2019

Tải về

Bộ 7 đề kiểm tra 1 tiết HK2 môn Ngữ văn lớp 11 năm học 2018-2019 được Học247 tổng hợp từ các trường khác nhau trên cả nước. Với hệ thống đề thi có đáp án này, các em sẽ dễ dàng nắm được cách trả lời các câu hỏi dạng nhận biết ở phần Đọc - hiểu cũng như dễ dàng lập dàn ý và viết hoàn chỉnh dạng đề bài văn nghị luận. Chúc các em có một kì kiểm tra đạt kết quả tốt.

TRƯỜNG THPT ĐOÀN THƯỢNG                                   Bài thi: NGỮ VĂN

       ĐỀ THI THAM KHẢO                          Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề

 

Phần 1: Đọc - hiểu (3.0 điểm)

Đọc văn bản sau đây và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:

Tôi được tặng một chiếc xe đạp leo núi rất đẹp nhân dịp sinh nhật của mình. Trong một lần tôi đạp xe ra công viên chơi, một cậu bé cứ quẩn quanh ngắm nhìn chiếc xe với vẻ thích thú và ngưỡng mộ thực sự.

- Chiếc xe này của bạn đấy à? - Cậu bé hỏi.

- Anh mình đã tặng nhân dịp sinh nhật của mình đấy. - Tôi trả lời, không giấu vẻ tự hào và mãn nguyện.

- Ồ, ước gì tôi... - Cậu bé ngập ngừng.

Dĩ nhiên là tôi biết cậu bé đang nghĩ gì rồi. Chắc chắn cậu ấy ước ao có được một người anh như thế. Nhưng câu nói tiếp theo của cậu bé hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của tôi.

- Ước gì tôi có thể trở thành một người anh như thế! - Cậu ấy nói chậm rãi và gương mặt lộ rõ vẻ quyết tâm. Sau đó, cậu đi về phía chiếc ghế đá sau lưng tôi, nơi một đứa em trai nhỏ tật nguyền đang ngồi và nói:

- Đến sinh nhật nào đó của em, anh sẽ mua tặng em chiếc xe lăn lắc tay nhé.

(Theo Hạt giống tâm hồn, tập 4, nhiều tác giả, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2006)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. (0.5 điểm)

Câu 2:  Cậu bé ước trở thành người anh thế nào? (0.5 điểm)

Câu 3: Theo anh/chị, câu “Cậu ấy nói chậm rãi và gương mặt lộ rõ vẻ quyết tâm" có ý nghĩa gì? (1.0 điểm)

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về thông điệp được gửi gắm qua câu chuyện? (1.0 điểm)

Phần 2: Làm văn (7.0 điểm)

Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

(Ngữ Văn 11, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr. 39)

 

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT ĐỀ THI

Phần 1: Đọc - hiểu (3.0 điểm)

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Tự sự.

Câu 2: Học sinh có thể trả lời 1 trong các cách sau:

  • Cậu bé ước trở thành người anh mang lại niềm vui, niềm tự hào cho người em.
  • Cậu bé ước trở thành người anh nhân hậu, được bù đắp, chia sẻ, yêu thương.
  • Cậu bé ước trở thành người anh giống như người anh của nhân vật tôi.
  • Cậu bé ước trở thành người anh có chiếc xe lăn lắc tay để tặng người em tật nguyền của mình.

Câu 3:

  • Câu “Cậu ấy nói chậm rãi và gương mặt lộ rõ vẻ quyết tâm” có ý nghĩa là: Cậu bé có lòng quyết tâm cao độ muốn biến ước mơ của mình thành hiện thực. Hoặc: Cậu bé đang nung nấu quyết tâm thực hiện ước mơ của mình là tặng xe lăn cho người em tật nguyền.

Câu 4:

  • Học sinh cần rút ra được thông điệp gửi gắm qua câu chuyện, đồng thời bày tỏ được suy nghĩ sâu sắc của cá nhân về thông điệp ấy.
  • Có thể theo hướng:
    • Thông điệp: Sống phải biết yêu thương, quan tâm, chia sẻ.
    • Nêu suy nghĩ: Tình yêu thương, sự quan tâm sẽ phần nào bù đắp những thiệt thòi và mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho những người có hoàn cảnh éo le... Người biết yêu thương, quan tâm người khác cũng sẽ được nhận lại niềm vui, tình yêu và sự kính trọng. Trong cuộc sống, cần biết vị tha, bao dung; phê phán lối sống vô cảm, vị kỉ...

Phần 2: Làm văn (7.0 điểm)

  • Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề gồm nhiều ý/ đoạn văn, kết bài kết luận được vấn đề.
  • Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Vẻ đẹp của bức tranh thôn Vĩ và tình cảm của tác giả.
  • Triển khai vấn đề nghị luận: Vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.
    • Giới thiệu khái quát về Hàn Mặc Tử, bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, đoạn thơ được cảm nhận.
    • Cảm nhận đoạn thơ:
      • Đoạn thơ mở đầu bằng câu hỏi mang nhiều sắc thái (hỏi, nhắc nhở, trách móc, mời mọc). Có thể hiểu đây như lời trách móc nhẹ nhàng và cũng là lời mời gọi tha thiết của cô gái thôn Vĩ với nhà thơ, hoặc cũng có thể là lời nhà thơ tự hỏi mình, là ao ước thầm kín của người đi xa mong được trở về thôn Vĩ.
      • Ở ba câu thơ tiếp là những hình ảnh đẹp đẽ, nên thơ về xứ Huế trong hồi tưởng của Hàn Mặc Tử:
        • Ánh nắng tinh khôi của buổi bình minh, những hàng cau thẳng tắp, ướt đẫm sương đêm, vươn lên đón những tia nắng sớm mai rực sáng lên như những thước trời.
        • Những mảnh vườn tược được chăm sóc chu đáo “mướt quá”, tinh khôi trong làn sương “xanh như ngọc”
        • Bức tranh ấy càng trở lên sống động hơn bởi sự xuất hiện của con người: nhẹ nhàng, kín đáo, thấp thoáng sau những cành lá trúc
    • Về nghệ thuật: Giọng điệu nhỏ nhẹ, tha thiết, tả cảnh rất ấn tượng bằng ngôn ngữ tinh tế, sử dụng câu hỏi tu từ, điệp ngữ, thủ pháp so sánh...
    • Đánh giá khái quát về đoạn thơ:  Đoạn thơ là bức tranh phong cảnh và cũng là tâm cảnh, góp phần cùng với hai khổ sau của bài thơ thể hiện nỗi buồn cô đơn của Hàn Mặc Tử trong một mối tình xa xăm, vô vọng. Đó còn là tấm lòng thiết tha của nhà thơ với thiên nhiên, cuộc sống và con người.
  • Sáng tạo: Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận
  • Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRUNG THIÊN                               Bài thi: NGỮ VĂN

       ĐỀ THI THAM KHẢO                      Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề

 

Phần 1: Đọc - Hiểu (3.0 điểm)

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

“Những kẻ ở vườn thấy quan sang, quan quyền, cũng bén mùi làm quan. Nào lo cho quan, nào lót cho lại, nào chạy ngược nào chạy xuôi, dầu cố ruộng dầu bán trâu cũng vui lòng, chỉ cần được lấy một chức xã trưởng hoặc cai tổng, đặng ngồi trên, đặng ăn trước, đặng hống hách thì mới thôi. Những kẻ như thế mà vẫn không ai khen chê, không ai khinh bỉ, thật cũng lạ thay! Thương ôi! Làng có một trăm dân mà người này đối với kẻ kia đều ngó theo sức mạnh, không có một chút gì gọi là đạo đức là luân lí cả. Đó là nói người trong một làng đối với nhau, chí như đối với dân kiều cư kí ngụ thì lại càng hà khắc hơn nữa. Ôi! Một dân tộc như thế thì tư tưởng cách mạng nảy nở trong óc chúng làm sao được! Xã hội chủ nghĩa trong nước Việt Nam ta không có là cũng là vì thế”.

(SGK Ngữ văn 11, tập 2)

Câu 1: Đoạn trích trên trích từ tác phẩm nào? Ai là tác giả của tác phẩm ấy?                    

Câu 2: Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên? Đọc đoạn văn anh/chị liên tưởng đến thực trạng nào của xã hội hiện nay?                         

Câu 3: Tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ nào? Ý nghĩa sử dụng của những biện pháp ấy?   

Câu 4: Từ nội dung đoạn trích trên, anh chị hãy viết một đoạn văn (5 - 7 dòng) trình bày suy nghĩ của mình về việc thực hiện pháp luật Nhà nước của giới trẻ hiện nay?

Phần 2: Làm văn (7.0 điểm)

Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của hai đoạn thơ sau:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.”

(Tràng Giang - Huy Cận, SGK Ngữ văn 11, tập 2)

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”.

(Đây Thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử, SGK Ngữ văn 11, tập 2).

 

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT ĐỀ THI

Phần 1: Đọc - Hiểu (3.0 điểm)

Câu 1:

  • Đoạn văn trích từ đoạn trích Về luận lí xã hội ở nước ta/ tác phẩm Đạo đức và luân lí Đông Tây của Phan Châu Trinh.

Câu 2:

  • Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận. Đoạn văn gợi liên tưởng đến hiện tượng chạy chức, chạy quyền của xã hội hiện nay.

Câu 3:

  • Các biện pháp tu từ: Ẩn dụ, điệp cấu trúc, câu cảm thán. Tác dụng nhấn mạnh thái độ căm ghét cao độ của tác giả đối với tầng lớp quan lại lúc bấy giờ.

Câu 4:

  • Học sinh có thể có nhiều cách trình bày khác nhau nhưng đảm bảo tính logic chặt chẽ trong lập luận, nội dung phù hợp với đạo lí và pháp luật. (Gợi ý: viết được những ưu điểm và hạn chế của việc thực hiện pháp luật của giới trẻ).

Phần 2: Làm văn (7.0 điểm)

  • Yêu cầu về kĩ năng:                                                                                     
    • Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
  • Yêu cầu về kiến thức:                                                               
    • Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và hai đoạn thơ                                       
    • Phân tích vẻ đẹp của hai đoạn thơ:                                                              
      • Phân tích vẻ đẹp của đoạn thơ trong Tràng giang của Huy Cận.                       
        • Vẻ đẹp nội dung: Cảnh sông Hồng và tâm trạng của thi nhân.
          • 3 câu đầu mang đậm màu sắc cổ điển, vẽ lên hình ảnh con thuyền nhỏ nhoi lênh đênh, trôi dạt trên sông rộng lớn, mênh mông gợi cảm giác buồn, cô đơn, xa vắng, chia lìa...
          • Câu thơ 4 mang nét hiện đại với hình ảnh rất đời thường: cành củi khô trôi nổi gợi cảm nhận về những thân phận, kiếp người nhỏ bé, bơ vơ giữa dòng đời.
          • ⇒ Đằng sau bức tranh thiên nhiên là tâm trạng của cái tôi bơ vơ, lạc lõng trước vũ trụ; là niềm khao khát hòa nhập với cuộc đời.
        • Vẻ đẹp nghệ thuật: Bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình, tả cảnh ngụ tình, ẩn dụ, thể thơ, nhịp điệu... vừa mang tính cổ điển vừa hiện đại....
      • Phân tích vẻ đẹp của đoạn thơ trong Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.
        • Vẻ đẹp nội dung:
          • 2 câu đầu: bao quát toàn cảnh với hình ảnh gió, mây, chia lìa đôi ngả; "dòng nước buồn thiu" gợi nỗi buồn hiu hắt.
          • 2 câu sau: tả dòng sông Hương trong đêm trăng lung linh, huyền ảo, vừa thực vừa mộng.
          • ⇒ Đằng sau cảnh vật là tâm trạng vừa đau đớn, khắc khoải vừa khao khát cháy bỏng của thi nhân.
        • Vẻ đẹp nghệ thuật: Hình ảnh thơ vừa thực vừa ảo, có tính tượng trưng, giàu sức gợi. Phối hợp tả cảnh ngụ tình với trực tiếp biểu cảm; dùng cấu trúc đối lập, phép nhân hóa, câu hỏi tu từ...
    • Chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt của hai đoạn thơ:                           
      • Sự tương đồng: 2 đoạn thơ tiêu biểu cho Thơ mới, đều là những bức tranh tâm cảnh. Hình ảnh ngôn ngữ giản dị, gần gũi; mượn cảnh sông, nước, con thuyền... để gợi sự chia lìa, cô đơn. Tâm trạng thi nhân: buồn, cô đơn, bế tắc trước cuộc sống... nhưng thiết tha yêu đời, yêu người.
      • Sự khác biệt:
        • Tràng giang của Huy Cận sáng tác trong hoàn cảnh: cảm xúc trước sông Hồng mênh mông, ngậm ngùi về thân phận nhỏ bé của mình trước trời đất vô cùng.Trong thời gian: buổi chiều.Và vẻ đẹp cái tôi trữ tình: nỗi sầu của cái tôi cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, trong đó thấm đượm tình người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín mà tha thiết. Thơ Huy cận mang đậm yếu tố Đường thi qua ngôn ngữ, hình ảnh.
        • Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử được gợi cảm hứng từ 1 mối tình, khi nhà thơ mắc bệnh sắp lìa cõi đời. Trong thời gian, không gian nghệ thuật: từ chiều đến đêm trăng, sông Hương. Và vẻ đẹp cái tôi trữ tình: đoạn thơ bộc lộ thế giới nội tâm đầy uẩn khúc, khát khao mãnh liệt tình yêu nhưng vô vọng, mơ tưởng tình người, tình đời; nỗi niềm lo âu cho hạnh phúc, khát khao được sống... Thơ Hàn Mặc Tử mang dấu ấn của thơ tượng trưng, siêu thực qua ngôn ngữ, hình ảnh.   
    • Lí giải: Hai đoạn thơ viết về hai không gian và hai thời điểm khác nhau. Hai tác giả có hai phong cách khác nhau.   
    • Đánh giá, nâng cao vấn đề   

 

    TRƯỜNG THPT NGUYÊN BÌNH                                        Bài thi: NGỮ VĂN

       ĐỀ THI THAM KHẢO                            Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề

 

ĐỀ 1:

Phần 1: Đọc - Hiểu (3.0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Thạch Sanh vốn là con của Ngọc Hoàng được phái xuống trần gian làm con của một vợ chồng nông dân nghèo khổ nhưng tốt bụng. Vợ chồng nông dân kia sớm qua đời, để lại Thạch Sanh sống lủi thủi dưới gốc đa, hằng ngày phải hái củi kiếm sống.

Một người hàng rượu tên là Lí Thông thấy Thạch Sanh khỏe mạnh nên giả vờ kết nghĩa anh em để lợi dụng. Thạch Sanh không hề hay biết bụng dạ của Lí Thông nên chấp nhận. Không may cho Lí Thông là đến dịp y phải vào đền để cúng mạng cho chằn tinh. Lí Thông bèn lừa Thạch Sanh đi thay mình. Không ngờ Thạch Sanh giết được chằn tinh. Lí Thông lại lừa Thạch Sanh bỏ trốn để đem đầu chằn tinh dâng vua lập công. Vua phong Lí Thông làm Quận công. Thạch Sanh trở về với chốn cũ.

Chẳng may cho nhà vua, người con gái đến tuổi lấy chồng bị đại bàng khổng lồ bắt mất. Khi bay qua gốc đa, nơi Thạch Sanh trú ẩn, đại bàng bị Thạch Sanh bắn trúng. Thạch Sanh lần theo vết máu, biết được nơi đại bàng giấu công chúa. Nhà vua sai Lí Thông đi tìm công chúa, hứa gả công chúa và truyền ngôi cho ai tìm được công chúa. Lí Thông lại nhớ đến Thạch Sanh. Y nhờ Thạch Sanh cứu công chúa rồi nhốt chàng dưới hang sâu.

Thạch Sanh giết đại bàng và cứu được con vua Thủy Tề vốn bị đại bàng bắt giam từ lâu. Thạch Sanh được xuống thăm thủy cung, được vua Thủy Tề phong thưởng rất hậu nhưng chàng chỉ xin một cây đàn rồi trở về gốc đa sinh sống.

Công chúa trở về cung nhưng chẳng nói chẳng rằng, nhà vua càng buồn thảm. Hồn chằn tinh và đại bàng trả thù Thạch Sanh khiến chàng bị bắt giam vào ngục. Trong ngục, Thạch Sanh đem đàn thần ra gảy. Tiếng đàn đến tai công chúa, giúp nàng khỏi bệnh câm. Theo lời công chúa, nhà vua cho gọi Thạch Sanh. Gặp nhà vua, Thạch Sanh kể lại mọi việc. Nhà vua sai xử tử mẹ con Lí Thông nhưng Thạch Sanh tha bổng cho họ. Trên đường về, hai mẹ con độc ác bị sét đánh chết và hóa thành bọ hung.

Thạch Sanh trở thành phò mã. Các nước chư hầu tức giận đem quân sang đánh nước ta. Thạch Sanh lại lấy đàn thần ra gảy làm cho quân giặc phải quy hàng. Thạch Sanh khao quân giặc một niêu cơm nhỏ nhưng chúng ăn không hết, chúng càng kính phục và chấp nhận rút quân về nước.

Thạch Sanh được nhà vua nhường cho ngôi báu.

                                                                                      (Truyện cổ tích Thạch Sanh - Lí Thông)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt và phong cách ngôn ngữ  của văn bản trên. (0.5 điểm)

Câu 2: Bản chất của mâu thuẫn và xung đột trong truyện “Thạch Sanh- Lí Thông” là gì? (0.5 điểm)

Câu 3: Sự lương thiện của Thạch Sanh biểu hiện ở điểm nào? (0.5 điểm)

Câu 4: Liệt kê các yếu tố thần kì được sử dụng trong câu truyện. (0.5 điểm)

Câu 5: Viết một kết thúc khác cho truyện “Thạch Sanh- Lí Thông”. (1 điểm)

Phần 2: Làm văn (7.0 điểm)

Câu 1: Dựa vào nội dung phần đọc-hiểu, hãy viết đoạn văn ( khoảng 200 chữ ) văn bàn về sự ích kỉ và lòng tham của con người trong cuộc sống. (2.0 điểm)

Câu 2: Cảm nhận về bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh. (5 điểm)

ĐỀ 2:

Phần 1: Đọc - Hiểu (3.0  điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Mồ côi cha mẹ sớm, Tấm phải sống với dì ghẻ và cô em cùng cha khác mẹ tên là Cám. Tấm vất vả, khổ cực, làm việc luôn tay còn Cám thì được cưng chiều, chỉ biết rong chơi.

Một hôm, Tấm và Cám cùng đi hớt tép và ai hớt được nhiều sẽ có yếm đỏ. Cám mải rong chơi, không có tép nên đã lừa trút hết giỏ tép đầy của Tấm. Tấm khóc. Bụt hiện lên bảo xem trong giỏ có gì không. Tấm tìm thấy một con cá bống. Tấm nuôi cá bống, mỗi ngày cho bống ăn cơm. Mẹ con Cám biết được liền lừa Tấm đi xa để ở nhà giết thịt cá bống. Tấm lại khóc. Bụt hiện lên bảo Tấm tìm xương cá bỏ vào bốn cái lọ đem chôn dưới chân giường.

Ngày hội làng, dì ghẻ trộn gạo lẫn thóc, bắt Tấm phải ở nhà nhặt xong mới được đi xem. Tấm tủi thân ngồi khóc. Bụt hiện lên sai chim sẻ nhặt thóc giúp Tấm rồi bảo Tấm đào bốn cái lọ dưới chân giường lên để láy quần áo đẹp đi xem hội và một cn ngựa để cưỡi.Tấm đi qua cầu, chẳng may đánh rơi một chiếc giày xuống nước, mò mãi không được. Khi ngựa của vua đi qua cứ đứng lại, vua liền sai quân lính xuống mò thì vớt lên một chiếc giày xinh đẹp. Vua truyền lệnh ai ướm vừa sẽ cưới làm vợ. Mọi người thi nhau ướm thử, kể cả mẹ con Cám. Tới lượt Tấm, chiếc giày vừa như in cùng với chiếc giày trong túi Tấm. Tấm trở thành hoàng hậu.

Nhân ngày giỗ bố, Tấm xin phép vua về thăm nhà. Dì ghẻ lập mưu lừa Tấm trèo lên cây hái cau rồi đốn cây giết Tấm để Cám vào cung thay chị. Tấm chết hóa thành chim vàng anh ngày nào cũng ở bên vua. Mẹ con Cám liền giết vàng anh, bỏ lông ra góc vườn. Nơi ấy lại mọc lên hai cây xoan đào. Vua thích hai cây xoan đào, liền mắc võng nằm ngủ. Mẹ con Cám liền chặt hai cây xoan đóng thành khung cửi. Lúc Cám dệt vải, khung cửi kêu tiếng Tấm, Cám sợ hãi, đem đốt khung cửi rồi đổ tro đi thật xa. Nơi ấy lại mọc lên một cây thị xanh tốt nhưng chỉ có duy nhất một quả và ở tít trên cao. Bà cụ đi chợ trông thấy yêu mến quả thị liền bảo thị về ở với bà. Quả thị trên cao rơi vào túi bà. Bà đem quả thị về nhà.Tấm từ trong quả htij chui ra, nấu cơm, nấu nước, dọn dẹp giúp bà cụ. Bà cụ rình bắt được, bà xé vỏ quả thị đi. Từ đó, Tấm sống với bà cụ như hai mẹ con.

Một hôm nhà vua kinh lí đi qua, thấy trầu giống Tấm têm ngày trước liền gọi hỏi. Vua nhận ra Tấm liền rước Tấm về cung. Cám thấy chị đẹp hơn xưa, sinh lòng ghen ghét. Tấm chỉ cho Cám cách làm da trắng. Cám làm theo và chết. Tấm lấy xác Cám làm mắm và gửi đến cho dì . Và dì ăn mắm đó và khen ngon, tuy nhiên khi biết đó là mắm của con mình, thì mẹ Cám cũng chết theo.

( Truyện cổ tích Tấm Cám)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt và phong cách ngôn ngữ của văn bản trên. (0.5 điểm)

Câu 2: Bản chất của mâu thuẫn và xung đột trong truyện “Tấm Cám” là gì? (0.5 điểm)

Câu 3: Tấm đã mấy lần hóa thân và đó là những gì? (0.5 điểm)

Câu 4: Liệt kê các yếu tố thần kì được sử dụng trong câu truyện. (0.5 điểm)

Câu 5: Viết một kết thúc khác cho truyện “Tấm Cám”. (1.0 điểm)

Phần 2: Làm văn (7.0 điểm)

Câu 1: (2.0 điểm)Dựa vào nội dung phần đọc - hiểu, hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) văn bàn về sự ích kỉ và lòng tham của con người trong cuộc sống.

Câu 2: (5.0 điểm) Cảm nhận về bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh.

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT ĐỀ THI

ĐỀ 1:

Phần 1: Đọc - Hiểu (3.0 điểm)

Câu 1:

  • Phương thức biểu đạt: Tự sự.
  • Phong cách ngôn ngữ: Nghệ thuật.

Câu 2:

  • Bản chất của mâu thuẫn và xung đột trong truyện “Thạch Sanh- Lí Thông” là:
    • Mâu thuẫn giữa thiện và ác.
    • Mâu thuẫn giai cấp.

Câu 3:

  • Sự lương thiện của Thạch Sanh biểu hiện ở:
    • “Nhà vua sai xử tử mẹ con Lí Thông nhưng Thạch Sanh tha bổng cho họ.”

Câu 4:

  • Liệt kê các yếu tố thần kì được sử dụng trong câu truyện:
    • Cây đàn thần, chằn tinh, đại bàng, niêu cơm

Câu 5: Tùy cách viết và cách diễn đạt giáo viên sẽ cho điểm phù hợp.

  • Trình bày tốt, diễn đạt lôi cuốn (1.5 điểm).
  • Trình bày khá (1 điểm).
  • Không viết đoạn, chỉ liệt kê (0 điểm).

Phần 2: Làm văn (7.0 điểm)

Câu 1:

  • Nêu vấn đề cần nghị luận: lòng tham và sự ích kỉ.
    • Giải thích
    •  Nguyên nhân
    • Hậu quả
    • Khắc phục
    • Phê phán
    • Liên hệ bản thân
  • Diễn đạt tốt và dẫn chứng phù hợp 
  • Lưu ý: Viết dưới hình thức đoạn văn. Thí sinh viết bài văn thì không tính điểm.

Câu 2:

  • Mở bài
    • Không gian và thời gian vào buổi hoàng hôn trong Nhật kí trong tù được miêu tả qua một số bài thơ: Hoàng hôn, Chiều tối, Cảnh chiều hôm, Xế chiều… Nhưng trong những bức tranh có phần ảm đạm đó, sinh hoạt của con người, niềm tin yêu lạc quan, vẻ tươi sáng vẫn được thể hiện rõ nét, nhất là trong bài thơ “Chiều tối”.
    • Ghi lại bài thơ.
  • Thân bài
    • Tổng:
      • Bài thơ lấy cảm hứng trên đường chuyển lao. Trời sắp tối, người tù bị giải đi giữa một miền núi.
      • Tấm lòng yêu người, yêu cuộc sống luôn luôn vượt qua những bước gian truân của tác giả để toát lên từ bức tranh Chiều tối này.
    • Phân:
      • Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh một ngày sắp hết: Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
        • Sau một ngày kiếm ăn, chim chiều mỏi mệt, tìm khu rừng cây quen thuộc để ngủ qua đêm. Chim mỏi về rừng báo hiệu ngày tàn, nhường chỗ cho bóng đêm. Nhưng người đi đường vẫn chưa được dừng bước, không rõ đi đến đâu, cũng không biết bao giờ có dược chốn ngủ như những cánh chim kia.
        • Một nỗi u hoài man mác dâng lên trong lòng người đi: tình cảnh mất tự do giữa đất khách quê người, cảnh vật gợi vẻ ảm đạm của một buổi chiều tàn.
      • Bầu trời buổi chiều tối còn vương lại một chút ánh sáng nhạt mờ, vừa đủ cho nhà thơ nhận ra một chòm mây lẻ loi đang lững lờ trôi: Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;
        • Cảnh đẹp như một bức tranh thủy mặc nhưng cũng thật buồn, càng khơi gợi nỗi cô đơn của người đi đường. Hơn nữa, đây còn là một người tù phải cất bước dù đã mỏi mệt suốt một ngày dài.
        • Hai câu thơ tả cảnh nhưng thật gợi tình, như kín đáo giãi bày một tâm trạng, một nỗi niềm.
      • Nhưng giữa cảnh núi rừng mênh mông trùng điệp đang chìm dần vào bóng tối, nổi bật một đốm lửa hồng soi hình bóng của một cô gái lao động: Cô em xóm núi xay ngô tối, / Xay hết, lò than đã rực hồng.
        • Bên cạnh con đường miền núi có một xóm nhà nhỏ, có lè thưa thớt. Cảnh thật bình thường, nhưng ngay lúc đó người tù chợt nhìn thấy một hình ảnh gây xúc động mãnh liệt: cô gái nhỏ xay ngô và ánh lửa hồng của lò than. Đó là hình ảnh bình dị về cuộc sống bình thường của người lao động. Sau một ngày làm việc ở ngoài đồng, chắc là rất vất vả, những người nông dân trở về nhà để ăn tối và nghỉ ngơi. Cô gái nhỏ này hẳn là con hoặc em gái trong gia đình, chuẩn bị bữa ăn cho những người sắp trở về. Hình ảnh cô gái nhỏ xay ngô và hình ảnh ngọn lửa xuất hiện trong bóng chiều chập choạng thật đơn sơ, giản dị, nhưng cũng thật đẹp, đáng yêu và ấm lòng.
        • Nhận ra những chi tiết của bức tranh đó, nhà thơ thực sự cảm động và thông cảm với cuộc sống của người lao động: nghèo, vất vả, nhưng ấm cúng và lạc quan. Đóng lại bài thơ bằng một từ “hồng” đầy sức nặng, nhà thơ như muốn ấp ủ ngọn lửa hồng ấy trong trái tim mình, vui sướng vì ngọn lửa của cuộc sống bình dị luôn sáng ấm.
      • Bài thơ đã kết hợp một cách hài hòa bút pháp cổ điển và hiện đại. Cảnh buổi chiều nơi núi rừng bao trùm cả bầu trời, mặt đất, cả thiên nhiên và con người, chỉ được ghi loáng thoáng vài nét đơn sơ: một cánh chim, một chòm mây, một cô gái bên lò than nơi xóm núi. Chỉ đơn sơ vài nét như trong một bài thơ cổ, nhưng ta cảm nhận được cái hồn của cảnh vật, tuy buồn mà vẫn ấm áp, đặc biệt lại có niềm vui bình dị trong bài thơ Chiều tối: nhà ai bên bếp lửa hồng tỏa sáng hình bóng khỏe khoắn của cô gái xay ngô.
    • Hợp:
      • Trong hoàn cảnh bị đày ải trên đường xa, cô độc, mệt mỏi giữa núi rừng nơi đất khách quê người vào lúc chiều tối, tác giả nhìn cảnh vật vẫn cảm thấy ấm áp vui tươi qua ánh lửa hồng rực sáng. Điều đó chứng tỏ mọi vui buồn của Bác đều gắn với vui buồn của con người, hầu như không phụ thuộc vào cảnh ngộ của riêng mình.
  • Kết bài
    • Thiên nhiên và con người được miêu tả trong bài thơ bằng vài nét chấm phá: hình ảnh cô em xóm núi xay ngô trở thành trung tâm bức tranh, đẩy lùi nền trời chiều với cánh chim bay mỏi, chòm mây bay chậm.
    • Nhưng bài thơ không tả một khung cảnh quạnh hiu mà tả cảnh sống đời thường mang vẻ yên bình, ấm áp.

ĐỀ 2:

Phần 1: Đọc - Hiểu (3.0 điểm)

Câu 1:

  • Phương thức biểu đạt: Tự sự.
  • Phong cách ngôn ngữ: Nghệ thuật.

Câu 2:

  • Bản chất của mâu thuẫn và xung đột trong truyện “Tấm Cám” là:
    • Mâu thuẫn và xung đột trong gia đình phụ quyền thời cổ (dì ghẻ >< con chồng).
    • Mâu thuẫn giữa thiện và ác.

Câu 3:

  • Tấm đã trải qua ba lần hóa thân, đó là: chim vàng anh, cây xoan đào, cây thị.

Câu 4:

  • Liệt kê các yếu tố thần kì được sử dụng trong câu truyện:
    • Nhân vật Bụt, xương cá bống và những lần biến hóa của nhân dân chính.

Câu 5: Tùy cách viết và cách diễn đạt giáo viên sẽ cho điểm phù hợp.

  • Trình bày tốt, diễn đạt lôi cuốn (1.5 điểm).
  • Trình bày khá (1 điểm).
  • Không viết đoạn, chỉ liệt kê (0 điểm).

Phần 2: Làm văn (7.0 điểm)

Câu 1:

  • - Nêu vấn đề cần nghị luận: lòng tham và sự ích kỉ.
    • Giải thích
    • Nguyên nhân
    • Hậu quả
    • Khắc phục
    • Phê phán
    • Liên hệ bản thân
  • Diễn đạt tốt và dẫn chứng phù hợp 
  • Lưu ý: Viết dưới hình thức đoạn văn. Thí sinh viết bài văn thì không tính điểm.

Câu 2:

  • Mở bài
    • Không gian và thời gian vào buổi hoàng hôn trong Nhật kí trong tù được miêu tả qua một số bài thơ: Hoàng hôn, Chiều tối, Cảnh chiều hôm, Xế chiều… Nhưng trong những bức tranh có phần ảm đạm đó, sinh hoạt của con người, niềm tin yêu lạc quan, vẻ tươi sáng vẫn được thể hiện rõ nét, nhất là trong bài thơ “Chiều tối”.
    • Ghi lại bài thơ.
  • Thân bài
    • Tổng:
      • Bài thơ lấy cảm hứng trên đường chuyển lao. Trời sắp tối, người tù bị giải đi giữa một miền núi.
      • Tấm lòng yêu người, yêu cuộc sống luôn luôn vượt qua những bước gian truân của tác giả để toát lên từ bức tranh Chiều tối này.
    • Phân:
      • Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh một ngày sắp hết: Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
        • Sau một ngày kiếm ăn, chim chiều mỏi mệt, tìm khu rừng cây quen thuộc để ngủ qua đêm. Chim mỏi về rừng báo hiệu ngày tàn, nhường chỗ cho bóng đêm. Nhưng người đi đường vẫn chưa được dừng bước, không rõ đi đến đâu, cũng không biết bao giờ có dược chốn ngủ như những cánh chim kia.
        • Một nỗi u hoài man mác dâng lên trong lòng người đi: tình cảnh mất tự do giữa đất khách quê người, cảnh vật gợi vẻ ảm đạm của một buổi chiều tàn.
      • Bầu trời buổi chiều tối còn vương lại một chút ánh sáng nhạt mờ, vừa đủ cho nhà thơ nhận ra một chòm mây lẻ loi đang lững lờ trôi: Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;
        • Cảnh đẹp như một bức tranh thủy mặc nhưng cũng thật buồn, càng khơi gợi nỗi cô đơn của người đi đường. Hơn nữa, đây còn là một người tù phải cất bước dù đã mỏi mệt suốt một ngày dài.
        • Hai câu thơ tả cảnh nhưng thật gợi tình, như kín đáo giãi bày một tâm trạng, một nỗi niềm.
      • Nhưng giữa cảnh núi rừng mênh mông trùng điệp đang chìm dần vào bóng tối, nổi bật một đốm lửa hồng soi hình bóng của một cô gái lao động: Cô em xóm núi xay ngô tối, / Xay hết, lò than đã rực hồng.
        • Bên cạnh con đường miền núi có một xóm nhà nhỏ, có lè thưa thớt. Cảnh thật bình thường, nhưng ngay lúc đó người tù chợt nhìn thấy một hình ảnh gây xúc động mãnh liệt: cô gái nhỏ xay ngô và ánh lửa hồng của lò than. Đó là hình ảnh bình dị về cuộc sống bình thường của người lao động. Sau một ngày làm việc ở ngoài đồng, chắc là rất vất vả, những người nông dân trở về nhà để ăn tối và nghỉ ngơi. Cô gái nhỏ này hẳn là con hoặc em gái trong gia đình, chuẩn bị bữa ăn cho những người sắp trở về. Hình ảnh cô gái nhỏ xay ngô và hình ảnh ngọn lửa xuất hiện trong bóng chiều chập choạng thật đơn sơ, giản dị, nhưng cũng thật đẹp, đáng yêu và ấm lòng.
        • Nhận ra những chi tiết của bức tranh đó, nhà thơ thực sự cảm động và thông cảm với cuộc sống của người lao động: nghèo, vất vả, nhưng ấm cúng và lạc quan. Đóng lại bài thơ bằng một từ “hồng” đầy sức nặng, nhà thơ như muốn ấp ủ ngọn lửa hồng ấy trong trái tim mình, vui sướng vì ngọn lửa của cuộc sống bình dị luôn sáng ấm.
      • Bài thơ đã kết hợp một cách hài hòa bút pháp cổ điển và hiện đại. Cảnh buổi chiều nơi núi rừng bao trùm cả bầu trời, mặt đất, cả thiên nhiên và con người, chỉ được ghi loáng thoáng vài nét đơn sơ: một cánh chim, một chòm mây, một cô gái bên lò than nơi xóm núi. Chỉ đơn sơ vài nét như trong một bài thơ cổ, nhưng ta cảm nhận được cái hồn của cảnh vật, tuy buồn mà vẫn ấm áp, đặc biệt lại có niềm vui bình dị trong bài thơ Chiều tối: nhà ai bên bếp lửa hồng tỏa sáng hình bóng khỏe khoắn của cô gái xay ngô.
    • Hợp:
      • Trong hoàn cảnh bị đày ải trên đường xa, cô độc, mệt mỏi giữa núi rừng nơi đất khách quê người vào lúc chiều tối, tác giả nhìn cảnh vật vẫn cảm thấy ấm áp vui tươi qua ánh lửa hồng rực sáng. Điều đó chứng tỏ mọi vui buồn của Bác đều gắn với vui buồn của con người, hầu như không phụ thuộc vào cảnh ngộ của riêng mình.
  • Kết bài
    • Thiên nhiên và con người được miêu tả trong bài thơ bằng vài nét chấm phá: hình ảnh cô em xóm núi xay ngô trở thành trung tâm bức tranh, đẩy lùi nền trời chiều với cánh chim bay mỏi, chòm mây bay chậm.
    • Nhưng bài thơ không tả một khung cảnh quạnh hiu mà tả cảnh sống đời thường mang vẻ yên bình, ấm áp.

 

  TRƯỜNG THPT LIỄN SƠN                                              Bài thi: NGỮ VĂN

       ĐỀ THI THAM KHẢO                      Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề

 

Phần 1: Đọc - Hiểu (3.0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Mất hàng triệu năm mới định hình những nếp nhăn ngôn ngữ trong não bộ, khó khăn lắm con người mới có tiếng nói. Không có tiếng nước bạn dở, tiếng nước tôi hay. Không có tiếng làng tôi nhẹ nhàng, làng bạn nặng trịch. Ý thức kì thị đó có thể lưu giữ được "bản sắc" văn hóa làng xã nhưng nghèo tính tiến hóa biết bao. Tiếng nói của nước nào cũng đáng kính trọng, bởi tiếng nói suy cho cùng là di sản từ tổ tiên loài người sinh học có chung một nguồn cội, chung một cây tiến hóa. Một loại di sản đặc biệt. Bởi nó không chỉ nằm trong kí ức mà nối dài trong hiện tại và bắc cầu đến tương lai. Người ta thường dùng di sản vào những mục đích tốt đẹp. Tiếng nói cũng vậy. Xin em đừng lộng ngữ tà ngôn. Biết dành những lời yêu thương cho cha mẹ. Dành những lời tốt đẹp, trung thực cho bạn bè. Tuổi hoa chỉ nói những lời "hoa cười, ngọc thốt đoan trang".

Và muôn đời, lời nói thành thực vẫn là lời hay nhất. Bởi mất đi sự chân thực, mất đi trách nhiệm trong lời nói, con người sẽ tuột dốc lỗi lầm.

 (Trích Lắng nghe lời thì thầm của trái tim, Nhiều tác giả,
NXB Văn hóa – Văn nghệ TP. HCM, 2015, tr.33)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. (0.5 điểm)

Câu 2: Trong chương trình Ngữ văn 11 học kì II, có một văn bản đề cập đến tầm quan trọng của tiếng nói, hãy nêu tên văn bản và tên tác giả. (0.5 điểm)

Câu 3: Anh/chị hiểu thế nào về ý kiến cho rằng tiếng nói là: "Một loại di sản đặc biệt. Bởi nó không chỉ nằm trong kí ức mà nối dài trong hiện tại và bắc cầu đến tương lai"? (1.0 điểm)

Câu 4: Nêu thông điệp văn bản gửi đến người đọc. (1.0 điểm)

Phần 2: Làm văn (7.0 điểm)

Câu 1: (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn luận về quan điểm: "Và muôn đời, lời nói thành thực vẫn là lời hay nhất."

Câu 2: (5.0 điểm)

Cảm nhận tình yêu cuộc sống của Xuân Diệu qua đoạn thơ sau:

…“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”

(Trích Vội vàng – Xuân Diệu, SGK Ngữ văn 11 Cơ bản, tập II, NXB Giáo dục, 2007, tr.22)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT ĐỀ THI

Phần 1: Đọc - Hiểu (3.0 điểm)

Câu 1: Phương thức biểu đạt của văn bản: Phương thức nghị luận.

Câu 2: Văn bản: Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức. Tác giả: Nguyễn An Ninh

Câu 3:

  • Tiếng nói là Một loại di sản đặc biệt. Bởi nó không chỉ nằm trong kí ức mà nối dài trong hiện tại và bắc cầu đến tương lai:
    • Tiếng nói là tài sản văn hóa tinh thần thế hệ cha ông trong quá khứ đã tạo dựng và để lại.
    • Tiếng nói nằm trong kí ức: Tiếng nói đã được bao thế hệ trong quá khứ sử dụng.
    • Nối dài trong hiện tại: Thế hệ hiện tại sử dụng tiếng nói tức là thừa hưởng, phát huy và sáng tạo di sản của cha ông.
    • Bắc cầu đến tương lai: Thế hệ hiện tại sử dụng tiếng nói còn là cách để gìn giữ, lưu truyền cho con cháu mai sau.

Câu 4:

  • Trân trọng tiếng nói của dân tộc mình và tất cả tiếng nói của dân tộc khác.
  • Biết nói những lời tốt đẹp, những lời yêu thương, những lời thành thực và tránh xa lộng ngữ, tà ngôn.

Phần 2: Làm văn (7.0 điểm)

Câu 1:

  • Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn luận về quan điểm: Và muôn đời, lời nói thành thực vẫn là lời hay nhất.
  • Yêu cầu về kĩ năng: biết cách viết đoạn văn; đoạn văn hoàn chỉnh chặt chẽ; diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả; đảm bảo dung lượng như yêu cầu đề.
  • Yêu cầu về kiến thức:
    • Giới thiệu quan điểm: muôn đời, lời nói thành thực vẫn là lời hay nhất.
    • Giải thích: Lời nói thành thực là lời nói đúng sự thật, không đặt điều, là lời xuất phát từ lòng chân thành, không giả tạo.
    • Bàn luận:
      • Lời nói thành thực là lời hay nhất bởi:
      • Nó xuất phát từ một nhân cách đẹp.
      • Người nói lời thành thực được quý mến, yêu thương, đem đến niềm tin trong các mối quan hệ.
      • Giúp cho xã hội, cộng đồng trong sạch.
    • Không thành thực trong lời nói biến con người ta thành kẻ đạo đức giả, gian dối, tha hóa nhân cách.
    • Bài học:
      • Nhận thức được thành thực trong lời nói là phẩm chất cần phải có để hoàn thiện nhân cách.
      • Biết nói lời thành thực trong cuộc sống.

Câu 2:

  • Cảm nhận tình yêu cuộc sống của Xuân Diệu
  • a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận.
  • b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: tình yêu cuộc đời của Xuân Diệu.
  • - Triển khai vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm, thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.
  • - Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích.
  • + Cảm nhận tình yêu cuộc sống của Xuân Diệu qua đoạn thơ
  • * Về nội dung
  • - Xuân Diệu đã phát hiện ra thiên đường ngay trên mặt đất, không xa lạ mà rất đỗi quen thuộc ngay trong tầm tay của chúng ta:
  • + Đó là bức tranh thiên nhiên mùa xuân rực rỡ sắc màu, niềm vui và sức sống, được thể hiện qua hàng loạt các hình ảnh : ong bướm, hoa lá, yến anh, tuần tháng mật…
  • + Màu sắc: màu xanh rì của đồng nội, màu của lá non, màu của cành tơ phơ phất…⇒ Gợi hình ảnh non tơ, mơn mởn.
  • + Âm thanh: khúc tình si của yến anh
  • - Bức tranh thiên nhiên ấy còn được vẽ lên với vẻ xuân tình: mối quan hệ của thiên nhiên, cảnh vật được hình dung trong quan hệ như với người yêu, người đang yêu, như tình yêu đôi lứa trẻ tuổi, say đắm. Các cặp hình ảnh sóng đôi như ong bướm, yến anh càng làm bức tranh thiên nhiên thêm tình ý.
  • ⇒ Xuân Diệu đã khơi dậy vẻ tinh khôi, gợi hình của sự vật, nhà thơ không nhìn sự vật ấy bằng cái nhìn thưởng thức mà bằng cái nhìn luyến ái, khát khao chiếm hữu.
  • - Bức tranh thiên nhiên đời sống con người càng đằm thắm, đáng yên hơn khi:
  • “Mỗi……môi gần”
  • ⇒ Với Xuân Diệu cuộc sống là vui và mùa xuân là đẹp nhất.
  • - Tâm trạng của nhà thơ
  • + Niềm sung sướng hân hoan, vui say ngây ngất trước vẻ đẹp của cuộc sống trần gian.
  • + Tâm trạng vội vàng, nuối tiếc thời gian, nuối tiếc mùa xuân ngay cả khi sống giữa mùa xuân.
  • * Về nghệ thuật
  • - Mới mẻ trong cách nhìn, cách cảm nhận cuộc sống; quan niệm thẩm mĩ hiện đại; phép điệp, liệt kê, so sánh, chuyển đổi cảm giác.
  • - Cấu trúc dòng thơ hiện đại.
  • d. Đánh giá
  • - Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Diệu.
  • - Tình yêu đời của Xuân Diệu đem đến quan niệm nhân sinh tích cực.
  • e. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc vấn đề cần nghị luận.
  • - Chính tả, dùng từ, đặt câu

 

TRƯỜNG THPT NÚI THÀNH                                           Bài thi: NGỮ VĂN

       ĐỀ THI THAM KHẢO                            Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề

 

Phần 1: Đọc - Hiểu (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Phong trào Thơ mới (1932 - 1945) xuất hiện trên thi đàn văn học đã tạo ra một bất ngờ lớn nhưng sự xuất hiện của Hàn Mặc Tử còn tạo ra sự ngạc nhiên hơn nhiều. Một đời thơ không dài nhưng Hàn Mặc Tử đã để lại một lượng tác phẩm đáng phục và anh được ví như “ngôi sao băng có ánh sáng khác lạ vụt qua bầu trời văn học” và làm người ta nhớ mãi không quên. Hàn Mặc Tử khiến người ta nhớ đến bởi giọng thơ độc đáo mới lạ của một hồn thơ luôn quằn quại đau đớn trong bất hạnh. Bên cạnh những vần thơ điên, thơ say, thơ siêu thực với một thế giới đầy ma quái là một giọng thơ trữ tình đằm thắm. Tất cả thể hiện một tình yêu đời tha thiết, khao khát tình người đến cháy bỏng. Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ như thế. Mười hai câu thơ là một mạch cảm xúc chan chứa tình cảm với xứ Huế thơ mộng, với con người trần thế.

(Trích Đọc hiểu văn bản Ngữ văn 11 - Nguyễn Trọng Hoàn)

Câu 1: Chỉ ra biện pháp tu từ về từ trong câu văn: Một đời thơ không dài nhưng Hàn Mặc Tử đã để lại một lượng tác phẩm đáng phục và anh được ví như “ngôi sao băng có ánh sáng khác lạ vụt qua bầu trời văn học” và làm người ta nhớ mãi không quên. (0,5 điểm)

Câu 2: Xác định câu chủ đề của đoạn trích. (0,5 điểm)

Câu 3: Nêu nội dung chính của đoạn trích trên. (1,0 điểm)

Câu 4: Theo anh/chị câu văn: Bên cạnh những vần thơ điên, thơ say, thơ siêu thực với một thế giới đầy ma quái là một giọng thơ trữ tình đằm thắm có ý nghĩa gì? (1,0 điểm)

Phần 2: Làm văn (7.0điểm)

Phân tích bức tranh tâm cảnh trong đoạn thơ sau:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay;

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

(Trích Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử, Tr 39, SGK Ngữ văn 11,Tập II, NXBGD 2007)

 

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT ĐỀ THI

Phần 1: Đọc - Hiểu (3.0 điểm)

Câu 1:

  • Biện pháp tu từ về từ trong câu văn: so sánh (anh được ví như “ngôi sao băng có ánh sáng khác lạ vụt qua bầu trời văn học”).

Câu 2: Câu chủ đề của đoạn trích: Phong trào Thơ mới (1932 - 1945) xuất hiện trên thi đàn văn học đã tạo ra một bất ngờ lớn nhưng sự xuất hiện của Hàn Mặc Tử còn tạo ra sự ngạc nhiên hơn nhiều.

Câu 3:

  • Nội dung chính của đoạn trích:
    • Giới thiệu sự xuất hiện của nhà thơ Hàn Mặc Tử trong phong trào Thơ Mới (1930 - 1945)
    • Khái quát vẻ đẹp của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.

Câu 4:

  • Câu văn “Bên cạnh những vần thơ điên, thơ say, thơ siêu thực với một thế giới đầy ma quái là một giọng thơ trữ tình đằm thắm” có ý nghĩa: làm rõ sự đa dạng trong giọng thơ Hàn Mặc Tử, đặc biệt nhấn mạnh đóng góp giọng thơ trữ tình của anh.

Phần 2: Làm văn (7.0điểm)

  • Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận văn học. Mở bài giới nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
  • Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Bức tranh tâm cảnh trong hai khổ thơ đầu của “Đây thôn Vĩ Dạ”.
  • Triển khai các luận điểm nghị luận: sử dụng các thao tác lập luận, chú trọng thao tác phân tích, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ, dẫn chứng.
    • Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận.
      • Bức tranh tâm cảnh trong hai khổ thơ đầu của “Đây thôn Vĩ Dạ”.
        • Bức tranh tâm cảnh ở khổ thơ đầu có gam màu tươi sáng hơn cả, Vĩ Dạ thuộc thành phố Huế nơi có phong cảnh Hữu tình.
          • Tâm trạng của con người thể hiện qua câu thơ đâù của khổ thơ với sự phân thân hay lời trách nhẹ nhàng, lời mời mọc ân cần.
          • Cảnh vật thôn Vĩ ở ba câu thơ sau của khổ thơ gợi lên vẻ đẹp hữu tình của thiên nhiên trong khoảnh khắc hừng đông. Đằng sau bức tranh phong cảnh là tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên, con người tha thiết cùng niềm băn khoăn day dứt của nhà thơ.
        • Bức tranh tâm cảnh ở khổ thơ thứ hai gợi lên sự chia lìa tan tác của con người và cảnh vật nơi thôn Vĩ.
          • Hình ảnh “Gió theo lối gió, mây đường mây” gợi cảm giác chia lìa, gợi nỗi buồn cách biệt. Bức tranh chuyển từ thực sang ảo. Dường như Hàn Mặc Tử giấu đi nỗi đau của riêng mình mà gửi vào trần thế cái ngọt ngào đằm thắm.
          • Cảnh càng đẹp thì nỗi buồn càng trào dâng, nỗi nhớ càng mãnh liệt. Trong giây phút thăng hoa cả vô thức và ý thức hòa quyện trong cõi mộng - đêm trăng
    • Đánh giá chung:
      • Bằng trí tưởng tượng phong phú cùng với nghệ thuật so sánh, nhân hóa, hình ảnh sáng tạo có sự hòa quyện giữa thực và ảo, Hàn Mặc Tử đã khắc họa thành công bức tranh tâm cảnh.
      • Hai khổ thơ đầu nói riêng và bài thơ nói chung là bức tranh phong cảnh Vĩ Dạ và lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc của nhà thơ.
  • Sáng tạo: bài viết có cách diễn đạt độc đáo, thể hiện suy nghĩ, mới mẻ, sâu sắc về vấn đề cần nghị luận, văn viết có cảm xúc...
  • Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

  TRƯỜNG THPT CAO BẰNG                                          Bài thi: NGỮ VĂN

       ĐỀ THI THAM KHẢO                           Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề

 

Phần 1: Đọc - Hiểu (3.0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi nêu ở dưới:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

Câu 1: Đoạn thơ trên được trích từ văn bản nào? Tác giả là ai?

Câu 2: Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ trên? Nêu tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó?

Câu 3: Nêu ý nghĩa của đoạn thơ trên?

Phần II : Làm văn (7.0 điểm)

Cảm nhận của anh, chị về đoạn thơ sau:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khách tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

(Xuân Diệu, Vội vàng)

 

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT ĐỀ THI

Phần 1: Đọc - Hiểu (3.0 điểm)

Câu 1: Đoạn thơ được trích từ tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử.

Câu 2: Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ, tác dụng:

  • Câu hỏi tu từ.
  • So sánh.
  • Đại từ phiếm chỉ ”ai”
  • Tác dụng: Thiên nhiên sống động rạng ngời, gợi cảm giác khỏe khoắn, ấm áp.

Câu 3:

  • Khái quát nội dung của đoạn thơ:
  • ⇒ Cái đẹp của Vĩ Dạ là cái đẹp thơ mộng, trong sáng, trinh nguyên. Đó còn là cái đẹp của một tâm hồn trong sáng, thánh thiện, một trái tim tha thiết với tình người, tình đời.
  • ⇒ Đằng sau bức tranh cảnh là tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên, con người tha thiết cùng niềm băn khoăn day dứt của tác giả.

Câu 4:

  • Yêu cầu về kỹ năng:
    • Biết cách làm bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ. Từ ý nghĩa bài thơ, học sinh biết mở rộng, bàn bạc về lí tưởng của thế hệ thanh niên trong cuộc sống hôm nay.
    • Bố cục mạch lạc, lập luận chặt chẽ, hành văn trong sáng, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt
  • Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần có các cơ bản sau:
    • Giới thiệu vấn đề nghị luận: tác giả, tác phẩm, đoạn trích....
    • Cảm nhận về vẻ đẹp của đoạn thơ:
      • Giới thiệu chung:
        • Cảm nhận chung về đoạn thơ: tình yêu cuộc sống tha thiết của tác giả
      • Nội dung:
        • Khát vọng kì lạ đến ngông cuồng:
          • Điệp từ.
          • Sử dụng động từ mạnh.
        • ⇒ đoạt quyền tạo hóa, cưỡng lại quy luật của tự nhiên.
        • Bức tranh thiên đường trên mặt đất:
          • Bướm ong dập dìu
          • Chim chóc ca hót
          • Lá non phơ phất trên cành.
          • Hoa nở trên đồng nội
        • ⇒ Vạn vật đều căng đầy sức sống, giao hòa sung sướng. Cảnh vật quen thuộc của cuộc sống, thiên nhiên qua con mắt yêu đời của nhà thơ đã biến thành chốn thiên đường, thần tiên.
          • Điệp ngữ: này đây kết hợp với hình ảnh, âm thanh, màu sắc (tuần tháng mật, Hoa ... xanh rì, Lá cành tơ..., Yến anh... khúc tình si,  Ánh sáng chớp hàng mi).
          • So sánh: tháng giêng ngon như cặp môi gần ⇒ táo bạo. Nhà thơ phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó 1 tình yêu rạo rực, đắm say ngây ngất. Sự phong phú bất tận của thiên nhiên, đã bày ra một khu địa đàng ngay giữa trần gian - “một thiên đàng trần thế”.
        • Tâm trạng đầy mâu thuẫn nhưng thống nhất: Sung sướng >< vội vàng: Muốn sống gấp, sống nhanh, sống vội tranh thủ thời gian.
      • Học sinh tự do bộc lộ quan niệm của mỗi cá nhân về thông điệp của tác phẩm:
        • Sống hưởng thụ và cống hiến.
    • Đánh giá chung:
      • Sự kết hợp giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí.
      • Cách nhìn, cách cảm mới và những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ.
      • Sử dụng ngôn từ nhịp điệu dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt.
      • ⇒ Quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩ mới mẻ của Xuân Diệu - nghệ sĩ của niềm khao khát giao cảm với đời.
    • Kết luận bài văn hợp lí

 

Được đề xuất cho bạn