YOMEDIA

Bộ 3 đề thi HSG môn Ngữ văn 11 năm 2022 Trường THPT Lê Thị Hồng Gấm có đáp án

Tải về
 
NONE

Để chuẩn bị tốt cho kì thi HSG lớp 11 sắp tới,  Học247 biên soạn và chọn lọc Bộ 3 đề thi HSG môn Ngữ văn 11 năm 2022 Trường THPT Lê Thị Hồng Gấm có đáp án dưới đây, tài liệu được biên soạn nhằm giúp các em củng cố kiến thức môn Ngữ văn để chuẩn bị tốt nhất cho kì thi sắp tới. Chúc các em có kết quả thật cao!

ATNETWORK

TRƯỜNG THPT

LÊ THỊ HỒNG GẤM

ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI

NĂM HỌC 2021 - 2022

Môn: Ngữ văn 11

Thời gian: 150 phút (Không kể thời gian giao đề)

 

ĐỀ THI SỐ 1

Câu 1. (8,0 điểm)

Julia Robert cho rằng: “Hoàn hảo là một căn bệnh mà nhiều dân tộc đang phải hứng chịu”. Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy viết một bài văn với chủ đề: Chấp nhận phần khuyết của chính mình.

Câu 2. (12 điểm)

Phát biểu quan niệm về thơ, Xuân Diệu cho rằng: “Thơ hay, lời thơ chín đỏ trong cảm xúc”.

Anh/ chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy chọn và phân tích một bài thơ trong chương trình Ngữ văn 11 để làm sáng rõ quan niệm trên.

-------------HẾT-------------

ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 1

Câu 1.

1. Yêu cầu về kỹ năng

Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội; kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả; lỗi dùng từ và lỗi ngữ pháp.

2. Yêu cầu về kiến thức

a. Giải thích

“Hoàn hảo”: đạt đến độ trọn vẹn, toàn bích, không có khiếm khuyết.

“Căn bệnh”: tình trạng hoạt động không bình thường, gây hại cho cơ thể.

Julia Robert cho rằng ép mình đạt đến sự trọn vẹn, hoàn hảo là một sai lầm có tác hại rất lớn. Tuy nhiên điều này lại đang lan tràn trên phạm vi rộng. Từ đó gửi đến chúng ta một thông điệp: cần phải biết chấp nhận mặt khuyết của bản thân.

b. Bình luận

Trong thời đại con người tìm cách khoác cho mình hình tượng hoàn hảo và đòi hỏi sự hoàn hảo ở người khác, hoàn hảo đã trở thành một căn bệnh. Người ta dệt cho mình tấm áo hoàn hảo: ngoại hình hoàn hảo (bỏ ra cả núi tiền để mua mĩ phẩm, phẫu thuật thẩm mĩ), trí tuệ hoàn hảo (ép mình nhồi nhét kiến thức), tâm hồn hoàn hảo. Khi đánh giá người khác, người ta cũng soi xét nhược điểm, phần khuyết.

Vì vậy, biết chấp nhận phần khuyết của chính mình là điều cần thiết và quan trọng, bởi vì:

– Trên đời, gần như không có điều gì hoàn hảo. Mọi thứ, từ con người đến mọi vật đều chẳng thập toàn thập mĩ. Đó không phải là “thiếu sót” của tạo hóa, mà là nguyên tắc cấu thành vạn vật. Dó đó, biết chấp nhận mặt khuyết thiếu của mình và người khác là đã đối diện cuộc sống một cách bản chất, chân thực và bình thản nhất.

– Khi biết chấp nhận nhược điểm của bản thân, người ta mới có thể tìm cách khắc phục và hoàn thiện mình.

* Mở rộng, nâng cao vấn đề

– Chấp nhận mặt khuyết của bản thân không có nghĩa là không sửa đổi và bắt người khác chấp nhận. Đồng thời, khi chấp nhận nhận nhược điểm của chính mình, cũng phải bao dung với hạn chế của người khác.

– Để có thể chấp nhận phần khuyết và sửa đổi, mỗi người cần nhận thức sâu sắc về chính mình, cần có bản lĩnh để thực hiện những cuộc “lột xác” và cần có tâm thế an nhiên, mở rộng lòng, bao dung với cuộc đời.

– Trong xã hội ngày nay, có những người không chấp nhận phần khuyết thiếu của chính mình, hoặc họ che giấu, hoặc họ quá cực đoan khi nhìn nhận. Bên cạnh đó, có những người biết sống hài hòa, nhẹ nhõm, chung sống với cả những nhược điểm của bản thân và hạn chế nó.

– Học sinh tự liên hệ bản thân và rút ra bài học nhận thức, hành động.

Câu 2.

1. Yêu cầu về kĩ năng

Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết lý giải, phân tích tác phẩm văn học để làm sáng tỏ vấn đề. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, hành văn trôi chảy. Văn viết có cảm xúc, không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, đặt câu, chính tả…

2. Yêu cầu về kiến thức

* Yêu cầu chung: Làm sáng tỏ một nhận định của Xuân Diệu về yêu cầu, phẩm chất của thơ ca.

            Thao tác chủ yếu: giải thích, bình luận, phân tích, chứng minh

            Kiến thức chủ yếu cần huy động: kiến thức lí luận văn học về đặc trưng của thơ ca, kiến thức về một bài thơ cụ thể trong chương trình phổ thông.

* Yêu cầu cụ thể: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần nêu được những ý cơ bản sau:

            a. Giải thích- bình luận:

-Thơ là gì: Thơ ca là tiếng nói của tâm hồn. là tiếng nói của tình cảm con người. Thuộc phương thức trữ tình, thơ lấy điểm tựa là sự bộc lộ thế giới nội cảm của nhà thơ, những rung động mãnh liệt của trái tim thi sĩ tr­ước cuộc đời. Cảm xúc đóng vai trò quyết định,  là nguồn cội của mọi sáng tạo nghệ thuật.

- Thơ hay: Xuân Diệu đặt ra yêu cầu với một tác phẩm thơ đích thực có giá trị phải đạt đến đỉnh cao cả nội dung lẫn hình thức:  cả lời ( ngôn từ, hình thức nghệ thuật) cả tư tưởng, cảm xúc phải  đạt đến độ chín muồi, đẹp đẽ nhất, mãnh liệt nhất ( chín đỏ). 

Cụ thể:

+ Lời thơ phải đẹp ( giàu hình ảnh, tinh tuý, hàm súc có âm thanh nhịp điệu rõ rệt...)

+  Lời thơ phải chứa đựng cảm xúc mãnh liệt, cao đẹp, những suy ngẫm sâu sắc về con người cuộc đời.

+ Những lời đẹp đẽ ấy chính là sự thăng hoa cảm xúc mãnh liệt của nhà thơ trư­ớc cuộc đời.  Ngược lại cảm xúc mãnh liệt, suy ngẫm sâu sắc  phải được thể hiện qua lời đẹp. "Tài gia tình chi phát"( tài do tình mà ra). Chỉ khi cái đẹp của ngôn từ của hình thức nghệ thuật chứa đựng, thể hiện cảm xúc, suy ngẫm mãnh liệt sâu sắc của nhà thơ trước cuộc sống thì mới có thơ đích thực- thơ hay. 

- ý kiến  của Xuân Diệu đặt ra  yêu cầu đối với một tác phẩm thơ đích thực. Xuân Diệu coi trọng nghệ thuật nhưng khẳng định vai trò cốt lõi của cảm xúc trong thơ.  Để sáng tạo nên những vần thơ đích thực, để vươn tới đỉnh cao của nghệ thuật chân chính, người nghệ sĩ không những phải có tài mà cần phải có tâm, có tình cảm mãnh liệt, sống hết mình với cuộc đời, biết xúc động nhạy cảm trước mọi niềm vui nỗi buồn của con người và biết làm lây lan tình cảm, gửi đến bạn đọc những thông điệp sâu sắc qua  các phương tiện, hình thức  nghệ thuật đẹp đẽ.

b. Chọn và phân tích một bài thơ trong chương trình THPT để chứng minh.  Thí sinh tự do chọn lựa bài thơ mà mình tâm đắc nhất, có thể trình bày theo những cách khác nhau song cần làm rõ:

+ Hoàn cảnh cảm hứng, cảm xúc chủ đạo và mạch cảm xúc của bài thơ để cảm nhận sự mãnh liệt trong cảm xúc của tác giả khi sáng tạo.

+ Cảm nhận sự thể hiện cảm xúc mãnh liệt trong tác phẩm thông qua ngôn ngữ, hình tượng đẹp đẽ để thấy lời thơ đã thực sự chín đỏ trong cảm xúc.

+ Khẳng định chính sự mãnh liệt, chín muồi trong cảm xúc, sự thăng hoa của lời thơ đã làm nên sức sống bền lâu của tác phẩm trong lòng bạn đọc.

ĐỀ THI SỐ 2

Câu 1 (8 điểm):

“Không phải ai trong chúng ta cũng có thể làm được những điều tuyệt vời. Nhưng chúng ta có thể làm những điều nhỏ bé với trái tim lớn lao ”.. (Đức Mẹ Teresa)

Viết bài văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ của anh / chị về lời khuyên trên?

 

Câu 2 (12 điểm):

Nói về thơ, Lưu Quang Vũ viết:

“Mỗi bài thơ của chúng ta

Phải giống như một ngưỡng cửa

Mở lòng đón nhận tình yêu ”

(Hiệp hội tháng hai)

Bạn hiểu ý kiến ​​trên như thế nào? Bằng hiểu biết của bạn về bài thơ “Vội vàng”(  Xuân Diệu) và ”Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử) hãy làm rõ?

-------------HẾT-------------

ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 2

Câu 1.

“Không phải ai trong chúng ta cũng có thể làm được những điều tuyệt vời. Nhưng chúng ta có thể làm những điều nhỏ bé với trái tim lớn lao ”.. (Đức Mẹ Teresa)

Viết bài văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ của anh / chị về lời khuyên trên?

Bài tập cần bao gồm các nội dung cơ bản sau:

I / Mở bài: Giới thiệu vấn đề sẽ thảo luận

II / Thân bài:

a. Giải thích

– Công việc tuyệt vời: Họ là những điều vĩ đại, phi thường, có sức ảnh hưởng lớn đến xã hội. Không phải ai trong chúng ta cũng có thể làm được những điều tuyệt vời – Chỉ những cá nhân xuất sắc mới có thể làm nên những điều tuyệt vời.

– Những điều nhỏ nhặt: là những việc đơn giản, nhỏ nhặt hàng ngày mà ai cũng có thể làm được. Làm bằng một trái tim lớn – Làm điều đó bằng tất cả tình yêu thương, sự quan tâm chân thành, sâu sắc.

-> Câu nói là lời khuyên ý nghĩa dành cho mọi người: Hãy làm những điều nhỏ bé, giản dị để mang lại hạnh phúc cho người khác bằng cả trái tim yêu thương.

b. Chứng tỏ

– Không phải ai cũng làm được những điều tuyệt vời vì:

+ Những điều lớn lao là những điều lớn lao, đòi hỏi người thực hiện phải có tài năng và cái tâm lớn. (Ví dụ)

Trong khi đó, ngoài những cá nhân xuất chúng, hầu hết mọi người đều chỉ có một số năng lực nhất định. Vì vậy, hầu hết chúng ta chỉ có thể làm những việc bình thường.

– Nhưng tất cả chúng ta đều có thể làm những việc nhỏ với tấm lòng cao cả vì:

+ Tấm lòng cao cả là tấm lòng biết yêu hết mình, yêu hết mình, đem tình yêu của mình cho người khác. Theo Mẹ Teresa, đó là trái tim biết yêu thương những con người còn phải chịu nhiều đau khổ, bất hạnh trong cuộc sống, cố gắng cho họ một cuộc sống tốt đẹp hơn.

+ Những điều nhỏ nhặt là những điều giản dị, đời thường như yêu thương, quan tâm, chia sẻ vật chất hay tinh thần cho những người nghèo khổ, bất hạnh hơn mình. Đây là những điều mà ai cũng có thể làm được.

+ Những điều lớn lao là quan trọng và cần thiết đối với xã hội, nhưng chính những điều nhỏ bé mới tạo nên cuộc sống hàng ngày của mỗi người. Những điều lớn lao có thể thay đổi cả xã hội, tạo ra những bước ngoặt của thời đại, còn những điều nhỏ nhặt có thể thay đổi cuộc đời một con người.

+ Điều quan trọng là nhiều điều nhỏ bé tạo nên điều lớn lao, vì vậy hãy quan tâm đến những điều nhỏ bé hàng ngày và làm chúng bằng tất cả tình yêu thương.

Ghi chú: Ngoài lập luận chắc chắn, học sinh cũng cần nêu rõ những dẫn chứng tiêu biểu, thuyết phục.

c / Nhận xét

Học sinh cần lật lại, lật ngược vấn đề để thảo luận và rút ra bài học cho mình.

– Cần nhận thức rằng, khát vọng làm được những điều lớn lao là ước mơ cao cả, chính đáng của con người; Nhưng nếu bạn không thể làm những điều lớn lao, hãy bắt đầu làm những việc nhỏ mỗi ngày bằng cả trái tim. Tất cả chúng ta đều có thể sống một cuộc đời ý nghĩa khi chúng ta biết yêu thương, quan tâm và mang lại những điều tốt đẹp cho những người xung quanh. Những điều nhỏ nhặt sẽ tạo nên những điều lớn lao…

– Học sinh cần liên hệ bản thân để rút ra bài học về nhận thức cũng như hành động. Đây là phần cần được đánh giá cao, khuyến khích những tình cảm chân thành, những câu chuyện cảm động, chân thực của chính học sinh về cuộc đời của chính mình.

III / Kết luận: Khẳng định lại ý nghĩa của những lời khuyên đối với mỗi người trong cuộc sống.     

Câu 2.

Nói về thơ, Lưu Quang Vũ viết:

“Mỗi bài thơ của chúng ta

Phải giống như một ngưỡng cửa

Mở ra để yêu thương ”

(Hiệp hội tháng hai)

Bạn hiểu ý kiến ​​trên như thế nào? Bằng những hiểu biết của mình về các bài thơ “Vội vàng” (Xuân Diệu) và “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử), hãy làm rõ?

Ứng viên có quyền phát triển công việc của mình theo nhiều hướng và cách thức khác nhau. Tuy nhiên, nhiệm vụ phải đáp ứng một số yêu cầu cơ bản:        

Khai mạc:

Dẫn dắt giới thiệu luận văn

1 / Giải thích ý kiến ​​của bạn:

– Lối vào – là nơi ngăn cách hai thế giới bên trong và bên ngoài -> So sánh mỗi bài thơ như một cửa sổ, nhà thơ muốn nói đến chức năng của thơ, là phương tiện giúp nhà thơ gửi gắm những tâm tư, tình cảm của mình. cá nhân cho tất cả mọi người.

–Mở lòng đón nhận tình yêu –Phía sau cánh cửa thơ là tình yêu – tình cảm của nhà thơ đối với con người và cuộc đời; tình yêu – cũng là tình cảm của con người với con người dành cho nhau.

-> Ý kiến ​​của Lưu Quang Vũ về giá trị của thơ: Thơ là phương tiện để nhà thơ mở rộng cửa trái tim mình với mọi người, hơn nữa thơ còn là nhịp cầu cho tâm hồn con người đến. cùng với nhau.

2 / Phân tích + Chứng minh

* Khẳng định ý kiến ​​trên là hoàn toàn xác đáng, sâu sắc và đúng đắn.

* Chứng minh: Học sinh kết hợp kiến ​​thức lí thuyết và kiến​​ thức văn học để chứng minh

– Nhà lý thuyết

– Được chứng minh bằng kiến ​​thức văn học

3 / Mở rộng và nâng cao:

– Thơ ca có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống con người. Mỗi bài thơ là những tâm tư tình cảm sâu sắc của người nghệ sĩ gửi gắm vào con người và cuộc đời. Thông qua cảm xúc cá nhân, mỗi bài thơ đánh thức cảm xúc trong lòng người đọc, hướng con người đến những giá trị Chân – Thiện – Mỹ. Cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn khi có thơ ca nói riêng và nghệ thuật nói chung. (Ss mở rộng thêm các tác phẩm thơ khác)

– Bài học:

Kết bài: Khẳng định số phận cao cả của đoạn thơ

---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 2 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---

ĐỀ THI SỐ 3

Câu 1. (8,0 điểm)

Amonimus cho rằng: “Con đường gần nhất để đi khỏi gian nan là đi xuyên qua nó”. Nhưng có người lại khuyên: “Hãy học cách ứng xử của dòng sông: gặp trở ngại, nó vòng đường khác”.

Anh/ chị hãy bày tỏ quan điểm của mình về những ý kiến trên.

Câu 2. (12,0 điểm)

Nhà thơ Xuân Diệu viết: “Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài...”. Anh/chị hãy chọn một bài thơ đã học mà mình cho là hay để làm rõ nhận định trên.

----------------HẾT---------------

ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 3

Câu 1. (8,0 điểm)

Trình bày quan điểm của bản thân về hai ý kiến nói về cách vượt qua gian nan, trở ngại.

1. Yêu cầu về kỹ năng: Biết làm bài nghị luận xã hội (nghị luận về một tư tưởng, đạo lý); biết kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận Bài làm có kết cấu hoàn chỉnh; lập luận chặt chẽ, luận điểm rõ ràng, luận cứ vững chắc; có chất văn. Bài văn không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp; biết dựng đoạn và liên kết đoạn…

2. Yêu cầu về kiến thức: Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các cơ bản ý sau:

a. Mở bài:

- Nêu vấn đề nghị luận: Con người có nhiều cách vượt qua gian nan, thử thách để thành công.

- Trích dẫn hai ý kiến.

b. Thân bài:

b1. Giải thích:

- Ý kiến thứ nhất: Dùng biểu tượng con đường để chỉ cách tốt nhất vượt qua gian nan, thử thách là con đường chấp nhận, chủ động đối mặt, vượt lên gian nan, thử thách...

- Ý kiến thứ 2: Mượn hình ảnh dòng sông để chỉ cách ứng xử trước khó khăn trong cuộc sống: không bỏ cuộc cũng không trực tiếp đối mặt với khó khăn thử thách mà linh hoạt tìm hướng khác, tiếp tục hành trình đạt mục đích cuối cùng.

- Hai ý kiến nêu cách ứng xử của con người trước gian nan, thử thách trong cuộc sống.

b2. Bàn luận:

- Phân tích, chứng minh:

+ Trong cuộc sống, con người thường gặp gian nan, khó khăn, thử thách.

+ Ý kiến thứ nhất đề cao lòng dũng cảm đối mặt với khó khăn, thử thách; sẵn sàng vượt qua khó khăn, thử thách (dẫn chứng).

+ Ý kiến thứ hai đề cao sự mềm dẻo, linh hoạt vượt qua gian nan, thử thách (dẫn chứng).

- Bình luận:

+ Hai ý kiến không đối lập nhau mà bổ sung hoàn thiện cách ứng xử của con người trước khó khăn, gian nan.

+ Hai ý kiến đều đúng, là những bài học quý giá giúp chúng ta dũng cảm, linh hoạt ứng xử trước khó khăn, thử thách để thành công.

b3. Bàn luận mở rộng vấn đề:

- Chúng ta cần có cách ứng xử khéo léo phù hợp với hoàn cảnh, năng lực...

- Chúng ta cần phê phán những người thiếu ý chí, đầu hàng trước khó khăn, thử thách; phê phán những người bất chấp thủ đoạn, bất chấp pháp luật để đạt mục đích.

b4. Nêu bài học nhận thức và hành động.

c. Kết luận:

- Gặp gian nan, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Điều quan trọng là chúng ta biết cách vượt qua gian nan, thử thách để thành công trong cuộc sống.

- Khi gặp gian nan, thử thách, chúng ta cần bình tĩnh, tự tin, ứng xử linh hoạt, nỗ lực vượt qua gian nan, khó khăn để thành công.

Câu 2. (12,0 điểm)

Bàn về ý kiến của nhà thơ Xuân Diệu: “Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài...”.

1. Yêu cầu về kỹ năng: Biết cách làm bài nghị luận văn học; biết vận dụng kết hợp các thao tác lập luận để làm rõ vấn đề Bài viết có bố cục đầy đủ, rõ ràng; dựng đoạn và liên kết đoạn Bài làm có lập luận chặt chẽ, luận điểm rõ ràng, luận cứ vững chắc Bài viết có chất văn; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp…

2. Yêu cầu về kiến thức: Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

a. Mở bài:

- Nêu vấn đề nghị luận: Một tác phẩm thơ hay là tác phẩm thơ có nội dung hay, ý nghĩa sâu sắc và có hình thức nghệ thuật độc đáo, sáng tạo...

- Dẫn ý kiến của nhà thơ Xuân Diệu.

b. Thân bài:

b1. Giải thích ý kiến của Xuân Diệu:

b2. Bàn luận:

b3. Chọn một bài thơ đã học mà bản thân cho là hay và phân tích để làm rõ ý kiến của nhà thơ Xuân Diệu.

b4. Mở rộng vấn đề: Ý kiến của Xuân Diệu không chỉ đúng cho thơ ca mà còn đúng cho văn học nghệ thuật. Một tác phẩm văn học nghệ thuật hay là tác phẩm hay cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.

c. Kết bài:

- Khẳng định vấn đề đã nghị luận.

- Tổng kết, liên hệ, nâng cao.

---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 3 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---

 

Trên đây là một phần trích đoạn nội dung Bộ 3 đề thi HSG môn Ngữ văn 11 năm 2022 Trường THPT Lê Thị Hồng Gấm có đáp án. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo hữu ích khác các em chọn chức năng xem online hoặc đăng nhập vào trang hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.

Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học sinh ôn tập tốt và đạt thành tích cao trong học tập.

Chúc các em học tập tốt !       

 

NONE

ERROR:connection to 10.20.1.101:9312 failed (errno=111, msg=Connection refused)
ERROR:connection to 10.20.1.101:9312 failed (errno=111, msg=Connection refused)
AANETWORK
 

 

YOMEDIA
ATNETWORK
ON