ON
ADMICRO

Long Lê's Profile

Long Lê

Long Lê

01/01/1970

Số câu hỏi 0
Số câu trả lời 39
Điểm 151
Kết bạn

Bạn bè (0)

Hoạt động gần đây (39)

  • Long Lê đã trả lời trong câu hỏi: Tìm x biết \((2x+ 1)^4=(2x +1)^6\) Cách đây 3 tháng

  • Long Lê đã trả lời trong câu hỏi: Tìm x biết \((x-1,5)^2=9\)? Cách đây 3 tháng

    đc

     

  • Long Lê đã trả lời trong câu hỏi: Nếu góc B và góc C là hai góc phụ nhau thì: SinB = sinC Cách đây 3 tháng

    I./ Mục tiêu:

     * Giúp học sinh củng cố các kiến thức cơ bản về các hệ thức trong tam giác vuông, các tỉ số lượng giác.

     * Rèn luyện kĩ năng vẽ hình, tư duy tính toán thông qua cá bài tập cơ bản và phát triển nâng cao

     * Giáo dục tinh thần tự giác trong học tập, lao động, tư duy độc lập sáng tạo.

    II/ Nội dung:

     I. Kiến thức cơ bản:

     1) Các hệ thức về cạnh và đường cao trong tam giác vuông

    - Định lí 1: b2 = a. c ; c2 = a .c

    - Định lí 2: h2 = b .c

    - Định lí 3: b.c = a.h `

    - Định lí 4: = +

    2) Các hệ thức về cạnh và góc trong tam giác vuông

    b = a.SinB = a.CosC

    c = a.SinC = a.CosB

    b= c.TgB= c.CotgC

    c = b.TgC = b.CotgB

    - Nếu biết 1 góc nhọn thì góc còn lại là 900 -

    - Nếu biết 2 cạnh thì tìm 1 tỉ số LG của góc Tìm góc đó bằng cách tra bảng

    - Dùng hệ thức giữa cạnh và góc trong tam giác vuông

  • Long Lê đã trả lời trong câu hỏi: Hàm số y = (3/5)x^5 - 3x^4 + 4x^3 - 2 đồng biến trên khoảng nào? Cách đây 3 tháng

    Hơi khó một tí nha

  • Long Lê đã trả lời trong câu hỏi: Hãy nêu hiểu biết của em về châu Phi? Cách đây 3 tháng

    Châu Phi (Africa) là châu lục đứng thứ hai trên thế giới về dân số (sau châu Á), thứ ba về diện tích (sau châu Á và châu Mỹ). Với diện tích khoảng 30.221.532 km² (11.668.599 mi²) bao gồm cả các đảo cận kề thì nó chiếm 20,4% tổng diện tích đất đai của Trái Đất. Với 1.225.100.000 người sinh sống ở 54 quốc gia tính đến 2016, châu Phi chiếm khoảng 16,4% dân số thế giới

    Mục lục

    Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

    Bản đồ thế giới chỉ ra châu Phi về mặt địa lý

    Tên gọi trong tiếng Việt của châu Phi bắt nguồn từ tên gọi tiếng Trung “非洲” (âm Hán ViệtPhi châu). Chữ “Phi” 非 trong “Phi châu” 非洲 là gọi tắt của “A Phi Lợi Gia” 阿非利加.[2][3] “A Phi Lợi Gia” (阿非利加 - "Ā fēi lì jiā") là phiên âm tiếng Trung của danh xưng tiếng Bồ Đào Nha “África”.[4]

    Từ “África” trong tiếng Bồ Đào Nha bắt nguồn từ tên gọi tiếng La-tinh “Africa”.[4]

    Tên gọi Africa được người châu Âu sử dụng thông qua người La Mã cổ đại, là những người sử dụng tên gọi Africa terra - "vùng đất Afri" (số nhiều, hay "Afer" ở dạng số ít) - để chỉ phần miền bắc của châu lục này, như là tỉnh Africa với thủ đô của nó là Carthage, tương ứng với Tunisia ngày nay.

    Nguồn gốc của Afer có thể có từ:

    Nhà sử học Leo Africanus (1495-1554) cho là nguồn gốc của từ phrike có nghĩa là "lạnh và sự khiếp sợ" trong tiếng Hy Lạp khi tổ hợp với tiền tố phủ định a-, có nghĩa là vùng đất không có lạnh và sự khủng khiếp. Nhưng sự thay đổi của âm từ ph sang f trong tiếng Hy Lạp có thể chỉ có từ thế kỷ I, vì thế trên thực tế nó khó có thể là nguyên gốc của tên gọi.

    Ai Cập đã từng được những người cổ đại coi như là một phần của châu Á, và lần đầu tiên nó được gắn với châu Phi nhờ công của nhà địa lý Ptolemy (85-165), là người đã chấp nhận Alexandria như là kinh tuyến gốc và coi kênh đào Suez và Hồng Hải như là ranh giới giữa châu Á và châu Phi. Khi người châu Âu có thể hiểu ra quy mô thực sự của châu lục này thì ý tưởng về Africa cũng đã được mở rộng cùng với hiểu biết của họ.

    Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

    Bài chi tiết: Lịch sử Châu Phi‎

    Châu Phi là cái nôi của loài người. Trong suốt thời kỳ tiền sử của loài người, châu Phi giống như các châu lục khác đã không có các quốc gia mà chủ yếu là các nhóm người săn bắn theo bầy đàn sinh sống. Khoảng năm 3300 TCN, nhà nước Ai Cập cổ đại đã ra đời và phát triển, nó đã tồn tại với các mức độ ảnh hưởng khác nhau cho đến khoảng năm 343 TCN. Các nền văn minh khác bao gồm Ethiopia, vương quốc Nubia, các vương quốc Sahel GhanaMali và Songhai và Đại Zimbabwe.

    Năm 1482, người Bồ Đào Nha đã thiết lập trạm thương mại đầu tiên (trong số nhiều trạm như thế) dọc theo bờ biển Guinée ở Elmina. Sự phát hiện ra châu Mỹ năm 1492 đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ trong buôn bán nô lệ mà trước thời kỳ của người Bồ Đào Nha thì việc buôn bán này trên đất liền gần như chỉ là những trường hợp hãn hữu.

    Nhưng cùng vào thời điểm này thì chế độ nông nô đã đi vào giai đoạn kết thúc ở châu Âu và trong đầu thế kỷ XIX, các lực lượng thực dân châu Âu đã tiến hành sự "tranh giành châu Phi" vô cùng khủng khiếp và đã chiếm đóng nhiều vùng đất của châu lục này, tạo ra nhiều quốc gia thuộc địa, chỉ để sót lại 2 quốc gia độc lập là Liberia, thuộc địa của người Mỹ da đen và Ethiopia. Sự chiếm đóng này còn tiếp diễn cho đến tận sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, khi các nước thuộc địa dần dần giành được quy chế độc lập hình thức.

    Ngày nay, châu Phi là quê hương của trên 50 quốc gia độc lập, tất cả trong số đó có đường biên giới được tạo ra trong thời kỳ chủ nghĩa thực dân của người châu Âu.

    Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

    Châu Phi trong hình, với châu Nam Cực ở phía nam và sa mạc Sahara cũng như bán đảo Ả Rập ở phía trên của Địa Cầu

    Châu Phi là phần lớn nhất trong số 3 phần nổi trên mặt nước ở phía nam của bề mặt Trái Đất. Nó bao gồm khu vực bao quanh một diện tích khoảng 30.221.532 km² (11.668.599 mi²) tính cả các đảo. Đại bộ phận diện tích nằm giữa chí tuyến Bắc và chí tuyến Nam nên có khí hậu nóng quanh năm.

    Bị Địa Trung Hải ngăn cách với châu Âu, đại lục này nối liền với châu Á về phía tận cùng đông bắc bằng eo đất Suez (bị cắt ngang bởi kênh đào Suez) có bề rộng 130 km (80 dặm). Về mặt địa lý thì bán đảo Sinai của Ai Cập nằm về phía đông kênh đào Suez (thông thường cũng được coi như là thuộc châu Phi). Từ điểm xa nhất về phía bắc là Ras ben Sakka ở Tunisia, nằm về phía tây mũi Blanc, ở vĩ độ 37°21' bắc, tới điểm xa nhất về phía nam là mũi Agulhas ở Nam Phi, 34°51′15″ nam, có khoảng cách khoảng 8.000 km (5.000 dặm); từ Cabo Verde, 17°33′22″ tây, tức điểm xa nhất về phía tây tới Ras Hafun ở Somalia, 51°27′52″ đông, có khoảng cách xấp xỉ 7.400 km (4.600 dặm). Độ dài của bờ biển là 26.000 km (16.100 dặm). Sự thiếu vắng các chỗ lõm sâu dọc theo bờ biển được so sánh thể hiện theo thực tế bằng tầm cỡ châu Âu, nơi có diện tích chỉ 9.700.000 km² (3.760.000 dặm vuông) nhưng lại có đường bờ biển tới 32.000 km (19.800 dặm).

    Các đường cấu trúc chính của châu lục này được thể hiện theo cả hai hướng tây-đông (ít nhất là ở phần bán cầu bắc) của những phần nằm về phía bắc nhiều hơn và hướng bắc-nam ở các bán đảo miền nam. châu Phi vì thế có thể coi là tổ hợp của hai phần vuông góc với nhau, phần phía bắc chạy theo hướng từ đông sang tây, phần phía nam chạy theo hướng bắc-nam.

    Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

    Địa hình châu Phi khá đơn giản. Có thể coi toàn bộ lục địa là một khối cao nguyên khổng lồ, cao trung bình 750m; trên đó chủ yếu là các sơn nguyên xen các bồn địa thấp. Phần đông của lục địa được nâng lên mạnh, nền đá bị nứt vỡ và đổ sụp, tạo thành nhiều thung lũng sâu, nhiều hồ hẹp và dài. châu Phi có rất ít núi cao và đồng bằng thấp.

    Khoáng sản[sửa | sửa mã nguồn]

    Châu Phi có nguồn khoáng sản phong phú, là châu lục đang nắm giữ 90% lượng Cobalt, 90% Platin, 50% Vàng, 98% Crom, 70% Tantalite[5], 64% Mangan và một phần ba lượng Urani của thế giới. Cộng hòa Dân chủ Congo có 70% lượng Coltan của thế giới, một loại Khoáng sản được dùng để sản xuất tụ điện Tantalum cho các thiết bị điện tử như điện thoại di động. Guinea là quốc gia xuất khẩu Bô xít lớn nhất thế giới. Ngoài ra, còn có nhiều dầu mỏ và khí đốt.

    Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

    Châu Phi có khí hậu nóng, nhiệt độ trung bình năm trên 20 °C, thời tiết ổn định. Lượng mưa tương đối ít và giảm dần về phía hai chí tuyến, hình thành những hoang mạc lớn, lan ra sát biển. Sa mạc Sahara là hoang mạc cát lớn nhất thế giới.

    Các môi trường tự nhiên của châu Phi nằm đối xứng qua xích đạo:

    Môi trường xích đạo ẩm với thảm thực vật rừng rậm xanh quanh năm, gồm bồn địa Congo và miền duyên hải phía bắc vịnh Guinea.

    - Hai môi trường nhiệt đới:càng xa Xích đạo lượng mưa càng giảm, rừng rậm nhường chỗ cho rừng thưa & xavan cây bụi. Nhờ nguồn thức ăn phong phú, xavan là nơi tập trung nhiều động vật ăn cỏ (ngựa vằnsơn dươnghươu cao cổ...) và động vật ăn thịt (sư tửbáo gấm...)

    - Hai môi trường hoang mạc, gồm sa mạc Sahara ở phía bắc & hoang mạc Kalaharihoang mạc Namib ở phía nam. Khí hậu khắc nghiệt, mưa rất hiếm, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm lớn. Thực vậtđộng vật nghèo nàn.

    - Hai môi trường địa trung hải ở phần cực Bắc và phần cực Nam châu Phi. Mùa đông mát mẻ và có mưa, mùa hạ nóng và khô. Thảm thực vật là rừng cây bụi lá cứng.

    Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

    Bản đồ chỉ ra những vùng thuộc địa của người châu Âu đối với châu Phi vào đầu Thế chiến I

    Châu Phi thuộc địa[sửa | sửa mã nguồn]

    Chủ nghĩa thực dân đã tạo ra những hậu quả gây mất ổn định trên tất cả những điều mà các bộ tộc châu Phi ngày nay còn cảm nhận được trong hệ thống chính trị của châu Phi. Trước khi có ảnh hưởng của người châu Âu thì các ranh giới quốc gia đã không phải là những điều đáng quan tâm nhất, trong đó người Phi châu nói chung theo các thực tiễn trong các vùng khác của thế giới, chẳng hạn như ở bán đảo Ả Rập, mà ở đó lãnh thổ của các nhóm dân cư là trùng khít với khu vực có ảnh hưởng về quân sự và thương mại của họ. Sự cố tình của người châu Âu trong việc vạch ra các ranh giới xung quanh các lãnh thổ để chia tách họ ra khỏi các quyền lực khác tại thuộc địa thông thường có ảnh hưởng tới việc chia cắt các nhóm dân cư hay chính trị liền kề hoặc cưỡng ép các kẻ thù truyền thống phải sống cạnh nhau mà không có khu vực đệm giữa họ. Ví dụ, sông Congo, mặc dù nó dường như là ranh giới địa lý tự nhiên, đã có các nhóm sắc tộc sống trên hai bờ sông chia sẻ cùng một ngôn ngữ và văn hóa hay các điều gì đó tương tự. Sự phân chia đất đai giữa Bỉ và Pháp dọc theo con sông này đã cô lập các nhóm sắc tộc này khỏi nhau. Những người sống ở khu vực Sahara hay Hạ Sahara là những người buôn bán xuyên châu lục này trong nhiều thế kỷ, thông thường hay vượt qua các "biên giới" mà thông thường chỉ tồn tại trên các bản đồ của người châu Âu.

    Trong các quốc gia có dân cư là người châu Âu chính gốc như Rhodesia (Zambia và Zimbabwe ngày nay) và Cộng hòa Nam Phi, các hệ thống công dân hạng hai thông thường được lập ra để đảm bảo cho quyền lực chính trị của người gốc Âu vượt qua hạn chế về số lượng của họ (nếu tính theo phổ thông đầu phiếu). Tuy nhiên, các đường vạch ra thông thường không thể hiện chính xác các ranh giới về chủng tộc. Tại Liberia, những công dân là hậu duệ của nô lệ Mỹ đã thống trị các hệ thống chính trị trên 100 năm, làm cho các cựu nô lệ và người bản địa trong khu vực cân bằng tương đối về quyền lập pháp mặc dù thực tế là những cựu nô lệ này chỉ chiếm khoảng 10% dân số nói chung. Ý tưởng kỳ quặc cho hệ thống này là của Thượng viện Hoa Kỳ, nó làm cân bằng quyền lực của các khu vực dân tự do và nô lệ một cách buồn cười cho dù dân số của dân tự do bản địa là nhiều hơn.

    Những người châu Âu thông thường thay đổi cán cân quyền lực, tạo ra các sự phân chia dân tộc mà trước đó đã không tồn tại, và tạo ra sự phân chia văn hóa gây hại cho những người dân sống trong khu vực họ kiểm soát được. Ví dụ, trong khu vực ngày nay là Rwanda và Burundi, hai sắc tộc Hutu và Tutsi đã bị trộn lẫn trong một nền văn hóa trong thời gian những kẻ thực dân người Bỉ kiểm soát khu vực này trong thế kỷ XIX. Không còn sự phân chia sắc tộc do sự hòa trộn, hôn nhân lai tạp và sự hòa trộn của các tục lệ văn hóa trong hàng thế kỷ đã xóa bỏ các dấu hiệu đáng kể để phân biệt về văn hóa, người Bỉ thực hiện chính sách phân loại theo sắc tộc trong thời gian kiểm soát khu vực này, do sự phân loại và các triết lý dựa theo sắc tộc đã là những điều không đổi trong văn hóa châu Âu trong thời gian đó. Thuật ngữ Hutu nguyên thủy nói tới các bộ tộc nói tiếng Bantu sinh sống bằng nông nghiệp đã di cư từ phía tây tới Rwandan và Burundi ngày nay, và thuật ngữ Tutsi là nói tới các bộ tộc sinh sống bằng chăn nuôi bò từ miền đông bắc tới khu vực này muộn hơn. Các thuật ngữ đối với người bản xứ cuối cùng đã được dùng để chỉ đẳng cấp kinh tế của một người. Các cá nhân sở hữu từ 10 con bò hoặc nhiều hơn được coi là người Tutsi, và những người sở hữu ít hơn thì bị coi là người Hutu, không phụ thuộc vào lịch sử tổ tiên. Điều này không phải là ranh giới chính xác nhưng nó là quy luật chung cho cách gọi, vì thế một người có thể chuyển từ người Hutu sang thành người Tutsi hay ngược lại.

    Người Bỉ đã đưa vào hệ thống phân biệt chủng tộc. Những cá nhân nào có nhiều đặc trưng giống người châu Âu khi nhìn - da sáng màu, cao lớn, mũi hẹp v.v. - được giao cho quyền lực trong số những người dân thuộc địa. Người Bỉ xác định các đặc trưng này là lý tưởng hơn cả ở người Hamit, người Hamit theo đó là gần giống với người châu Âu và thuộc về nhóm người có quan hệ gần với người Tutsi theo trực hệ. Họ đã thực hiện chính sách làm thẻ căn cước dựa trên triết lý này. Những người gần giống với mô hình lý tưởng này được coi là người Tutsi còn những người còn lại là người Hutu.

    Châu Phi hậu thuộc địa[sửa | sửa mã nguồn]

    Kể từ khi độc lập, các nước châu Phi đã thường xuyên bị cản trở bởi sự bất ổn định, nạn tham nhũng, bạo lực và chủ nghĩa độc tài. Phần lớn các nước châu Phi là các nước cộng hòa hoạt động theo một số kiểu của chế độ tổng thống. Có một ít quốc gia ở châu Phi có chính thể dân chủ, nhưng bị nối tiếp bởi những vụ đảo chính tàn bạo hay các chế độ 

    DÒNG SỰ KIỆN:

    •  
    •  
    •  
    •  
    •  

    MÔI TRƯỜNG

    Cần có biện pháp kịp thời bảo vệ loài cá quý hiếm

    Để ngăn ngừa sự tuyệt chủng cá tra dầu, cần có sự phối hợp chặt chẽ của 4 quốc gia thuộc hạ lưu sông Mekong trong công tác bảo tồn.

    Nguyễn Văn Trí (TTXVN) 20/06/2013 14:27 GMT+7 

    Ngày 16/6 vừa qua, một ngư dân ở xã Tịnh Thới, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã đánh bắt được con cá tra dầu dài hơn 1,4 mét, đường kính thân hơn 80cm, nặng 63kg trên sông Tiền, thuộc khu vực sông Mekong.

    Cá tra dầu sông Mekong (tên khoa học là Pangasianodongigas) biểu trưng cho sự nguyên trạng về sinh thái của sông Mekong và sự phong phú của những loài cá khác được xem như nguồn sinh kế cho người dân sống trong lưu vực sông.

    Với kích thước lớn, có thể dài đến 3 mét và trọng lượng lên đến 250kg, cá tra dầu là một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất thế giới. Cá tra dầu mang ý nghĩa biểu tượng, gắn với khu vực sông Mekong nhưng số lượng của chúng trong tự nhiên đang giảm đáng kể. Trong Sách Đỏ của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) năm 2004, loài cá này đã được xếp vào loài đang gặp nguy hiểm nghiêm trọng.

    Kỹ sư Lê Hoàng Vũ, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản tỉnh Đồng Tháp cho biết Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có thông tư quy định danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển, trong đó có cá tra dầu.

    Theo kỹ sư Vũ, đối tượng vi phạm các quy định về quản lý các loài thủy sản quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần bảo vệ, bảo tồn và phát triển theo quy định của Công ước CITES và các loài thuộc danh mục bảo vệ của Sách Đỏ bị phạt từ 20-25 triệu đồng.

    Bên cạnh đó, còn hình thức xử phạt bổ sung như tịch thu số thủy sản đã khai thác trái phép, tịch thu tang vật vi phạm, phương tiện vi phạm, buộc thả số thủy sản còn sống trở lại môi trường sống...

    Anh Nguyễn Minh Chiến, một ngư dân ở xã Tịnh Thới, thành phố Cao Lãnh cho biết cách đây hơn 10 năm, hai bố con anh đánh bắt được con cá tra dầu nặng hơn 300kg trên địa phận sông Tiền gần khu vực Phà Cao Lãnh. Mới đây, anh lại bắt được con cá Tra Dầu đực, nhỏ hơn.

    Theo các nhà nghiên cứu về Chương trình đa dạng sinh học đất ngập nước Mekong, sự đa dạng sinh học của lưu vực sông Mekong có tầm quan trọng quốc tế, bao gồm những hệ sinh thái độc đáo, có một số loài bị đe dọa tuyệt chủng cấp toàn cầu như loài cá heo lrrawaddy, cò quắm lớn, sếu đầu đỏ, cá sấu Xiêm, cá Tra Dầu...

    Sự săn bắt tràn lan cùng với việc buôn bán động thực vật bất hợp pháp đã làm một số loài đứng bên bờ vực tuyệt chủng. Thực trạng hiện nay của cá tra dầu cho thấy tính tự nhiên bị xáo trộn trong khu vực sông Mekong, làm sự sống và số lượng loài cá tra dầu ở khu vực hạ lưu bị ảnh hưởng do những thay đổi của khu vực thượng lưu.

    Do cá tra dầu được xem là động vật đại diện để đánh giá về tình trạng hệ sinh thái và thủy sản của sông Mekong nên Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới rất quan tâm tới tình hình hiện tại của loài cá này.

    Có nhiều nguyên nhân làm giảm số lượng loài cá tra dầu, trong đó có sự thay đổi nhanh chóng của môi trường ở lưu vực sông. Để ngăn ngừa sự tuyệt chủng cá tra dầu, cần có sự phối hợp chặt chẽ của bốn quốc gia thuộc hạ lưu sông Mekong là Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan trong công tác bảo tồn.

    Bên cạnh đó, cần nhân giống cá tra dầu ra tự nhiên, tăng cường các hoạt động bảo tồn cá tra dầu như nghiên cứu kiểu di trú và đẻ trứng, đánh giá việc cải thiện đánh bắt, hỗ trợ chương trình “mua và thả” và có các hoạt động bảo tồn loài cá tra dầu tại cấp quốc gia và khu vực.../.
     

    Nguyễn Văn Trí (TTXVN)

  • Long Lê đã trả lời trong câu hỏi: Phân vi lượng cần bón một lượng như thế nào? Cách đây 3 tháng

    BÓN PHÂN VI LƯỢNG NHƯ THẾ NÀO LÀ ĐÚNG CÁCH??

     

    Bên cạnh các loại phân bón vi sinh, trung lượng, phân bón vi lượng cũng rất cần thiết đối với cây trồng. Do đó việc bón phân vi lượng là vô cùng cần thiết. Nhưng bón phân vi lượng thế nào mới đúng cách. Bài viết sau sẽ giải đáp thắc mắc này.

     

    >>Xem thêm Phân vi lượng là gì?? Vai trò của phân vi lượng

     

    Những trường hợp cần bón phân vi lượng

     

    Phân vi lượng thực chất là các hỗn hợp chất hóa học để mang đến cho cây thêm các loại nguyên tố vi lượng. Nhiều khi, phân bón vi lượng này còn cho thêm các nguyên tố siêu vi lượng, đất hiếm, chất kích thích sinh trưởng.

     

    Phân bón vi lượng là những loại phân bón sinh học được sử dụng phổ biến. Trong đó, có những trường hợp thì việc sử dụng phân bón vi lượng rất quan trọng cho việc cải tạo môi trường đất và phát triển cây trồng.

     

    +)  Với các trường hợp đất quá chua, quá kiềm hay quá nhiều mangan… thì việc sử dụng phân bón này sẽ rất hữu ích để trung hòa tính chất của đất trồng cây.

    +)  Việc bổ sung kịp thời phân bón vi lượng giúp cây trồng tăng năng suất và giảm tình trạng cây chết do thiếu một số nguyên tố vi lượng.

    biểu đồ dinh dưỡng cho cây trồng

    Bón phân vi lượng theo đúng nhu cầu của cây trồng

     

    Bón phân vi lượng như thế nào là đúng cách??

     

    Phân vi lượng rất quan trọng đối với cây trồng nên việc bón phân vi lượng là rất cần thiết. Bón thừa hay thiếu đều sẽ rất ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Vậy bón như nào mới đúng cách??

    phan-vi-luong-kem

    Bón phân vi lượng thế nào là đúng cách

     

    Hiện nay, bà con cần chú ý việc bón phân vi lượng cần phải thực hiện theo 1 trong 3 cách gồm:

     

    +)  Bón thẳng vào đất.

    +)  Trộn với phân bón hoặc là ngâm hạt giống, hồ rẽ.

    +)  Phun lên lá.

     

    Thường thì việc bón phân vào đất ít được sử dụng vì nó sẽ làm hao phí lượng phân. Từ đó khiến cây không hấp thụ đủ các nguyên tố vi lượng mà phân cung cấp.

     

    Tùy từng loại cây trồng, từng loại đất sử dụng mà chúng lựa chọn loại phân vi lượng phù hợp với cây trồng.

     

    Đặc biệt, khi sử dụng phân vi lượng thì bà con nên lưu ý là với các loại cây ăn quả nhiều năm thì nên sử dụng phân 2 năm liền thì cần ngừng 1 – 2 năm mới dùng lại. Nếu cây hàng năm thì có thể sử dụng liên tục đến khi bà con thấy phân không có hiệu quả nữa thì ngừng sử dụng.

     

    Thay vì tìm nhiều loại phân vi lượng từ nhiều cửa hàng khác nhau, tại sao bạn không đến với hóa chất VNT. Hóa chất VNT cung cấp các loại phân vi lượng, phân bón và hóa chất các loại toàn quốc. Với giá thành rẻ nhất, chất lượng uy tín, VNT cam kết đem lại lợi ích cho khá

  • Long Lê đã trả lời trong câu hỏi: Công thức và cách sử dụng của thì tương lai đơn ? Cách đây 3 tháng

     

    Thì tương lai đơn trong tiếng Anh

    Học Tập - Giáo dục » Môn tiếng Anh

    Là một trong những thì đơn giản nhất trong tiếng Anh, thì tương lai đơn được sử dụng rộng rãi cả trong giao tiếp hằng ngày và lĩnh vực học thuật. Trong bài viết này, hãy cũng Taimienphi.vn tìm hiểu các kiến thức liên quan đến cách dùng, công thức và dấu hiệu nhận biết của thì này nhé!

    Bài viết liên quan

     

    Thì tương lai đơn (tiếng Anh là The Simple Future Tense) được sử dụng để diễn tả một hành động được quyết định ngay tại thời điểm nói hoặc một dự đoán mang tính chủ quan của người nói. Vậy, thì tương lai đơn trong tiếng Anh có gì đặc biệt, bạn cần lưu ý những gì khi sử dụng thì này? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây với Taimienphi.vn nhé!

    thi tuong lai don trong tieng anh

    Thì tương lai đơn trong tiếng Anh
     

    Mục Lục bài viết:
    1. Cách sử dụng thì.
    2. Công thức thì tương lai đơn.
    3. Dấu hiệu nhận biết .
    4. Bài tập thì tương lai đơn.

     

    1. Cách Dùng Thì Tương Lai Đơn

    Đúng như tên gọi của nó, thì tương lai đơn diễn tả một hành động, sự việc sẽ xảy ra trong tương lai theo quan điểm chủ quan của người nói; ngoài ra, nó còn có một số chức năng khác như:
    - Diễn tả một ý định, một quyết định nhất thời ngay tại thời điểm nói
    Ex: I will go with you to the Taimienphi's office.
    - Diễn tả một dự đoán mang tính chủ quan, không có căn cứ
    Ex: I think that she will pass the entrance exam to the university.
    - Diễn tả một lời hứa, lời yêu cầu, hay lời mời, lời đề nghị
    Ex: I promise that I will come to the party.
    - Sử dụng trong câu điều kiện loại 1 để diễn tả một hành động, sự việc có thể xảy ra ở hiện tại và tương lai
    Ex: If you don't prepare carefully, you will not pass the interview to become an editor at Taimienphi.vn.
    - Diễn tả một lời cảnh báo hoặc đe dọa
    Ex: Work hard, or you will be fired.
    - Đưa ra gợi ý hoặc lời đề nghị giúp đỡ (thường dùng với "Shall")
    Ex: Shall I do this for you?
     

    2. Cấu Trúc Thì Tương Lai Đơn

    Thì tương lai đơn có 2 trợ động từ là "will" và "shall". Tuy nhiên, trong tiếng Anh hiện đại, "will" được sử dụng phổ biến hơn và gần như trong hầu hết mọi trường hợp. "Shall" chủ yếu được sử dụng để đưa ra lời đề nghị giúp đỡ hoặc gợi ý. Thì tương lai đơn có cấu trúc như sau:
    - Khẳng định: S + will + V
    - Phủ định: S + will + not + V (dạng viết tắt của will not là won't)
    - Nghi vấn: Will + S + V?
    Ex: I will come here tommorrow.
    will not come here tommorrow.
    Will you come here tommorrow?
     

    3. Dấu Hiệu Nhận Biết Thì Tương Lai Đơn

    Cách tốt nhất để nhận biết các thì trong tiếng Anh là dựa vào các trạng từ chỉ thời gian, và thì tương lai đơn cũng không phải là một ngoại lệ. Câu sử dụng thì tương lai đơn thường có các trạng từ chỉ thời gian như:
    - In + thời gian: trong vòng bao lâu nữa (in 10 minutes: trong vòng 10 phút nữa)
    - Tommorrow: ngày mai
    - Next day, next week, next month, next year: ngày mai, tuần tới, tháng tới, năm sau
    - In the future: trong tương lai
    - As soon as: ngay khi
    - Until: cho đến khi
    - When: khi
    - Someday/ one day: Một ngày nào đó
    - From now on: kể từ bây giờ
    Ngoài ra, khi trong câu có các trạng từ chỉ quan điểm như "think, suppose, believe, promise, perhaps, probably, ...." thì ta cũng sử dụng thì tương lai đơn.

  • Long Lê đã trả lời trong câu hỏi: Viết lại câu: I enjoy listening to pop music best ---> Pop music is my Cách đây 3 tháng

    Pop music is my favorite music kind

Điểm thưởng gần đây (86)

  • Long Lê: thêm 1 user like, cộng 1 (+1đ) Cách đây 2 tháng
  • Long Lê: thêm 1 user like, cộng 1 (+1đ) Cách đây 3 tháng
  • Long Lê: thêm 1 user like, cộng 1 (+1đ) Cách đây 3 tháng
  • Long Lê: thêm 1 user like, cộng 1 (+1đ) Cách đây 3 tháng
  • Long Lê: thêm 1 user like, cộng 1 (+1đ) Cách đây 3 tháng
  • Long Lê: thêm 1 user like, cộng 1 (+1đ) Cách đây 3 tháng
  • Long Lê: thêm 1 user like, cộng 1 (+1đ) Cách đây 3 tháng
  • Long Lê: thêm 1 user like, cộng 1 (+1đ) Cách đây 3 tháng
  • Long Lê: thêm 1 user like, cộng 1 (+1đ) Cách đây 3 tháng
  • Long Lê: thêm 1 user like, cộng 1 (+1đ) Cách đây 3 tháng

 

1=>1