Bài 1: Tín dụng


Nội dung bài giảng Bài 1: Tín dụng sau đây sẽ giúp các bạn tìm hiểu về khái niệm, chức năng và vai trò của tín dụng, các hình thức tín dụng.

Tóm tắt lý thuyết

1. Khái niệm, chức năng và vai trò của tín dụng

1.1 Khái niệm tín dụng

  • Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả (cả vốn và lãi) sau một thời gian nhất định.
  • Như vậy có thể khẳng định: Tín dụng biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sông, theo nguyên tắc hoàn trả có thời hạn và có lợi tức.
  • Từ khái niệm trên cho thấy trong quan hệ tín dụng người cho vay chỉ nhượng lại quyền sử dụng vốn cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên người đi vay không có quyền sở hữu vốn ấy nên phải hoàn trả lại cho người cho vay khi đến thời hạn đã thỏa thuận. Sự hoàn trả này không chỉ là sự bảo tồn về mặt giá trị mà vốn tín dụng còn được tăng thêm dưới hình thức lợi tức. Ở đây quá trình vận động mang tính chất hoàn trả của tín dụng là biêu hiện đặc trưng nhất, sự khác biệt giữa quan hệ tín dụng và các mối quan hệ kinh tế khác

Một số phạm trù liên quan đến Tín dụng của Ngân hàng thương mại:

  • Chủ thể của tín dụng: Là người nhượng quyền sử dụng tài sản cho người khác và người nhận quyền sử dụng tài sản của người khác. Trong một số trường hợp bên cạnh hai chủ thể tín dụng này còn có một chủ thể thứ ba xuất hiện với tư cách là người bảo lãnh.
  • Người bảo lãnh tín dụng xuất hiện trong các quan hệ tín dụng khi mà người đi vay không đủ tín nhiệm đối với người cho vay, nhằm tạo sự bảo đảm bổ sung trong việc hoàn trả nợ đối với người cho vay.
  • Đối tượng tín dụng là loại tài sản mà người cho vay nhượng quyền sử dụng cho người đi vay, đối tượng tín dụng có thể là hiện vật, tiền và các vật có giá.
  • Hơn nữa, trong nền kinh tế hiện đại, các quan hệ tín dụng đã được đa dạng hóa tối đa. Bên cạnh quan hệ tín dụng giữa các cá nhân mang tính chất truyền thông từ xa xưa, các quan hệ tín dụng mang tính chất xã hội có tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật được phát triển rộng khắp và chiếm vai trò chủ đạo, các kênh truyền dẫn tín dụng được đa dạng hóa tối đa nhằm huy động và sử dụng các nguồn lực Tài chính trong xã hội phục vụ các hoạt động kinh tế xã hội. Bên cạnh kênh truyền dẫn tín dụng dân gian, kênh truyền dẫn tín dụng qua thị trường chứng khoán và nhất là kênh truyền dẫn tín dụng qua các tổ chức trung gian Tài chính được phát triển rộng khắp.
  • Thời hạn tín dụng là khoảng thời gian thực hiện việc chuyển và nhận quyền sử dụng đối tượng tín dụng. Nó được tính từ khi bắt đầu giao đối tượng tín dụng cho người đi vay và kết thúc khi người cho vay nhận lại đối tượng tín dụng.
  • Giá tín dụng là giá trị vật bù đắp cho người cho vay do nhượng quyền sử dụng đối tượng tín dụng. Cũng có thể coi giá cả tín dụng là giá trị vật bù đắp mà người đi vay phải trả do được nhận quyền sử dụng tín dụng. Giá cả tín dụng trong xã hội hiện đại được thể hiện băng một lượng tiền nhất định bao gồm tiền lãi và các phụ phí hoặc bằng chỉ số phần trăm gồm lãi suất và các phụ phí suất (Khác với hàng hóa thông thường, giá cả phản ánh và xoay quanh giá trị hàng hóa, còn giá cả tín dụng thì phản ánh giá trị sử dụng của vốn trong một khoảng thời gian nhất định. Bởi vậy, giá cả của tín dụng được coi là loại giá cả đặc biệt).
  • Chế tài tín dụng là sự trừng phạt do thỏa thuận hay do luật định đối với bên vi phạm điều kiện vay mượn. Thông thường, sự trừng phạt này nhằm vào bên đi vay để bảo đảm lợi ích của người cho vay.
  • Hợp đồng tín dụng là sự điều chỉnh quan hệ tín dụng giữa các chủ thể tín dụng được định hình bằng các thỏa thuận giữa các bên, hoặc bằng miệng hoặc bằng vãn bản có tên gọi là hợp đồng tín dụng (hợp đồng vay mượn). Những thỏa thuận ấy phải phù hợp với thông lệ quốc gia hay thông lệ quốc tế.

1.2 Chức năng tín dụng

Tập trung và phân phối lại vốn, tài sản trên cơ sở có hoàn trả:

  • Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai quá trình thống nhất trong sự vận hành của hệ thống tín dụng. Tín dụng là chiếc cầu nối giữa các nguồn cung và cầu về vốn tiền tệ trong nền kinh tế. Thông qua chức năng này tín dụng thực hiện việc điều hòa vốn tài sản từ nơi thừa sang nơi thiếu. Việc điều hòa này của tín dụng hoặc trực tiếp từ nơi thừa sang nơi thiếu tài sản hoặc gián tiếp qua các trung gian Tài chính. Song sự điều hòa mang tính chất tạm thời và thông thường phải trả lợi tức nhất định theo quy ước giữa bên cho vay và bên đi vay.
  • Với chức năng tập trung phân phối lại vốn, tài sản trong xã hội, tín dụng có tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế - xã hội xét trên cả mặt tích cực cũng như tiêu cực. Nếu việc tập trung phân phôi lại của cải xã hội qua tín dụng phù hợp với nhu cầu khách quan của đời sống kinh tế xã hội, sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, đời sông dân cư sẽ được cải thiện. Ngược lại, nếu việc phân phôi lại của cải xã hội thông qua tín dụng không phù hợp với nhu cầu khách quan của đời sống kinh tế xã hội, thì hoặc sẽ đẩy sản xuất kinh doanh phát triển quá mức, tiêu dùng vượt quá khả năng sản xuất, hoặc .là kìm hãm sản xuất kinh doanh, giảm sức mua của dân cư, góp phần tạo ra lạm phát hoặc giảm phát. Thực hiện chức năng này tín dụng còn góp phần tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội do huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, cho vay để tăng nhịp độ vòng quay của đồng tiền, phát hành các chứng từ có giá như tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu, giảm nhu cầu về tiền mặt trong lưu thông, đồng thời giảm những chi phí trong lưu thông khác như in ấn giấy bạc, chi phí bảo quản vận chuyến tiền...

Kiểm tra, giảm sát bằng tiền đối với các hoạt động kinh tế xã hội.

  • Trong quá trình phân phối lại của cải xã hội, các chủ thế tín dụng sẽ thực sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau nhằm trước hết bảo vệ lợi ích của họ. Đồng thời sự kiểm tra giám sát ấy sẽ góp phần tác động đến việc thực hiện các hoạt động kinh tế - xã hội theo đúng lợi ích toàn xã hội.
  • Trọng tâm của chức năng này là giám sát việc nhận, sử dụng đốì tượng tín dụng của người đi vay, từ đó đảm bảo sự hoàn trả đối tượng tín dụng một cách toàn vẹn, đúng hạn đã cam kết. Muốn vậy, việc giám sát đó phải được tiến hành trong cả quá trình vay mượn, nghĩa là trước khi người vay nhận tiền vay, trong khi nhận tiền vay, và sau khi nhận tiền vay cho đến khi người vay hoàn trả xong nợ.
  • Cần nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của sự kiểm tra, giám sát bằng đồng tiền do các trung gian Tài chính (các Công ty Tài chính, các tô chức bảo hiểm, các tổ chức phi ngân hàng) thực hiện. Với tư cách là người đi vay đế cho vay, các trung gian Tài chính có thể và cần phải giám sát chặt chẽ đôi với các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, đối với hoạt động thu chi của Ngân sách Nhà nước và hoạt động tiêu dùng của dân cư. Sự giám sát này không chỉ vì lợi ích của bản thân các trung gian Tài chính mà còn vì lợi ích của các doanh nghiệp, của dân cư và của toàn xã hội.

1.3 Vai trò của tín dụng

Tín dụng góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục.

  • Do tính đa dạng trong luân chuyển vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, tại một thời điểm nhất định trong nền kinh tế có một số doanh nghiệp thừa vốn tạm thời do bán hàng hóa có tiền, nhưng chưa có nhu cầu sử dụng ngay (chưa trả lương công nhân, chưa mua nguyên vật liệu) đã làm nảy sinh nhu cầu cho vay vốn để tránh tình trạng ứ đọng vốn và có thêm lợi nhuận.
  • Trong khi đó có những doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời do hàng hóa chưa bán được, nhưng lại có nhu cầu mua nguyên vật liệu, thanh toán tiền lương làm nảy sinh nhu cầu đi vay để duy trì sản xuất kinh doanh đem lại lợi nhuận.
  • Với việc cung cấp tín dụng thông qua cho vay kịp thời, đã tạo khả năng đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh, cho phép các doanh nghiệp thỏa mãn nhu cầu về vốn luôn thay đổi và không để tồn đọng vốn trong quá trình luân chuyển.

Tín dụng góp phần tích tụ, tập trung vốn thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh.

  • Tập trung vốn phải dựa trên cơ sở tích lũy. Trong thực tế, có những lượng tích lũy rất lớn được nắm giữ ở các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế. Nhưng rất nhiều người tích lũy không muốn cho vay trực tiếp hoặc không muốn có cổ phần trong các dự án đầu tư, vì ngoài lý do mất khả năng thanh khoản (khả năng gặp khó khăn rút tiền khi có nhu cầu đột xuất) thì người tích lũy còn bị hạn chế bởi khả năng, kiến thức về Tài chính và pháp lý để thực hiện trực tiếp đầu tư hoặc cho vay. Với hoạt động của hệ thống tín dụng có đủ độ tin cậy, do tính chuyên môn hóa cao trong hoạt động tín dụng, và đa dạng hóa các danh mục đầu tư thông qua cho vay nhiều nhà đầu tư của nhiều dự án khác nhau, từ đó làm giảm bớt rủi ro cá nhân của những người tích lũy, giúp quá trình tập trung vốn được thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả, tạo khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn. Các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nhờ nguồn vốn tín dụng có thế nhanh chóng mở rộng sản xuất, thực hiện các dự án đầu tư tạo ra những bước nhảy vọt về năng lực sản xuất do tiếp cận được với máy móc thiết bị hiện đại, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển.

Tín dụng góp phần điều chỉnh, ổn định và tăng trưởng kinh tế.

  • Trong nền kinh tế thị trường, các nhà đầu tư thường chỉ tập trung vốn đầu tư vào các lĩnh vực có lợi nhuận cao, trong khi đó, nền kinh tế đòi hỏi phải có sự phát triển cân đối, đồng bộ giữa các ngành và các vùng, yêu cầu phải có những ngành then chốt, mũi nhọn để tạo đà cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng.
  • Tín dụng thông qua cung cấp vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn đầy đủ, kịp thời với lãi suất và điều kiện cho vay ưu đãi, có vai trò quan trọng trong việc góp phần đảm bảo vôm đầu tư cho cơ sở hạ tầng, hình thành các ngành then chốt, mũi nhọn và các vùng kinh tế trọng điểm góp phần hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu. Chẳng hạn, với ưu đãi về vốr, lãi suất, điều kiện và thời hạn cho vay vốn đối với nông nghiệp, nông thôn để xây dựng cơ sở vật châT, kết cấu hạ tầng, tín dụng góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
  • Tín dụng còn là phương tiện để Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thích hợp (thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở) để ổn định nền kinh tế khi nền kinh tế có dấu hiệu bất ổn (suy thoái, lạm phát). Chẳng hạn như khi nền kinh tế phát triển chậm, sản xuất đình trệ, Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ “nới lỏng”, Ngân hàng Trung ương thực hiện mua các chứng khoán của các Ngân hàng thương mại, từng bước “bơm tiền” vào lưu thông, tạo áp lực giảm lãi suất dẫn đến chi phí vay vốn giảm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ngược lại. Hơn nữa, với sự tham gia của tín dụng thông qua dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt đã giảm chi phí lưu thông và an toàn trong thanh toán.

Tín dụng góp phần nâng cao đời sống của nhãn dàn và thực hiện các chính sách xã hội khác của Nhà nước.

  • Với các hình thức tín dụng, cơ chế và lãi suất thích hợp, tín dụng đã góp phần nâng cao đời sống nhân dân ngay cả khi thu nhập còn hạn chế.
  • Thông qua các chính sách ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách, tín dụng đã đóng vai trò quan trọng nhằm thực hiện các chính sách việc làm, dân số, và các chương trình xoá đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội.

Tín dụng là công cụ thực hiện chức năng quản lý kinh tế xã hội của Nhà nước.

  • Nhà nước thường xuyên sử dụng chính sách tín dụng làm phương tiện cân đôi thu chi Ngân sách nhà nước, góp phần đảm bảo nguồn lực Tài chính thực thi các chính sách xã hội.
  • Nhà nước sử dụng tín dụng làm công cụ điều hành quá trình lưu thông tiền tệ, đảm bảo sự cân đôi tiền hàng, ổn định thị trường, giá cả và sức mua của đồng tiền, đồng thời phát huy cao độ vai trò tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội của tín dụng trong việc sử dụng tiền trong sản xuất kinh doanh, cũng như trong phân phối và tiêu dùng sản phẩm trong xã hội.

Tín dụng góp phần mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.

  • Hoạt động tín dụng không chỉ bó hẹp trong nền kinh tế của một quốc gia, mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế. Trong điều kiện của nền kinh tế mở, vay nợ nước ngoài ngày nay trở thành một nhu cầu khách quan đối với tất cả các nước trên thế giới, lại càng tỏ ra bức thiết hơn đối với các nước đang phát triển. Việt nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác là nước nghèo, tích lũy trong nước còn hạn chế, trong khi cần lượng vốn rất lớn để phát triển kinh tế. Nhờ có tín dụng, các nước có thể mua hàng hóa, nhập khẩu máy móc thiết bị và tiếp cận với những thành tựu khoa học kỹ thuật mới, cũng như trình độ quản lý tiên tiến trên thế giới. Tín dụng đã tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư quốc tế trực tiếp, một hình thức hợp tác quốc tế ở mức độ cao hơn.

2. Các hình thức tín dụng

Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì các hình thức tín dụng càng đa dạng. Căn cứ vào đối tượng và chủ thể tín dụng thì hiện nay tồn tại các hình thức tín dụng sau đây:

2.1 Tín dụng thương mại

  • Tín dụng thương mại phản ánh các quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh, dược thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa.
  • Đối tượng của tín dụng thương mại là hàng hóa như nguyên liệu, vật liệu, sản phẩm dở dang, máy móc thiết bị.
  • Chủ thể tham gia vào tín dụng thương mại là những người sản xuất kinh doanh thuộc mọi loại hình sở hữu, mọi ngành nghề.
  • Do đặc điểm tuần hoàn, luân chuyển vốn khác nhau trong những đơn vị sản xuất kinh doanh, nên thường xẩy ra sự không ăn khớp giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tại một thời điểm, trong khi một số nhà sản xuất kinh doanh có hàng hóa muốn bán thì một số khác lại muôn mua hàng hóa đó nhưng chưa có tiền. Trong trường hợp này người sản xuất muốn tiêu thụ được sản phẩm có thể bán chịu hàng hóa cho người mua. Như vậy, người bán chuyển giao cho người mua quyền sử dụng vốn (hàng hóa) tạm thời trong một thời gian nhất định. Chính việc gia hạn thanh toán đã làm xuất hiện quan hệ tín dụng và người mua trở thành người đi vay, người bán là người cho vay. Đến thời hạn theo thỏa thuận, người mua hoàn lại số vốn vay cho người bán dưới hình thức thanh toán. Trong trường hợp này, lãi suất của tín dụng thương mại được cộng vào giá cả hàng hóa và được xác định ngay tại thời điếm bán hàng.

Công cụ của tín dụng thương mại

  • Thương phiếu (còn gọi là kỳ phiếu thương mại). Thương phiếu là chứng chỉ có giá do đôi bên mua bán chịu ký kết với nhau giấy nhận nợ và căn cứ vào đó việc thanh toán tiền hàng mua chịu được thực hiện chắc chắn
  • Thương phiếu gồm hối phiếu và lệnh phiếu.

Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu, hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.

Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một Số tiền xác định khi có yêu cầu, hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.

  • Người ký phát là người lập và ký phát hành hối phiếu.
  • Người bị ký phát là người có trách nhiệm phải thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu.
  • Người thụ hưởng là người có tên trên thương phiếu và được thanh toán số tiền ghi trên thương phiếu, hoặc bất cứ người nào được chuyến nhượng thương phiếu phù hợp với quy định của Luật này.
  • Người phát hành là người lập và ký phát lệnh phiếu.
  • Người có liên quan bao gồm người ký phát, người bị ký phát, người phát hành, người chuyển nhượng, người nhận cầm cố và người bảo lãnh.
  • Phát hành là việc lập, ký và chuyên giao thương phiếu lần đầu của người ký phát hoặc người phát hành cho người thụ hưởng.
  • Chuyển nhượng là việc người thụ hưởng chuyên giao thương phiếu cho người được chuyển nhượng đế đối lấy tiền hoặc thanh toán một nghĩa vụ.
  • Chấp nhận là cam kết của người bị ký phát thanh toán một phần hoặc toàn bộ Số tiền ghi trên hối phiếu khi đến hạn, thông qua việc ký chấp nhận trên hối phiếu phù hợp với quy định của Luật này.
  • Chữ ký là chừ ký bằng tay trực tiếp của người có quyền, nghĩa vụ đôi với thương phiếu kèm theo đóng dấu, nếu có.
  • Quan hệ thương phiếu là quan hệ giữa người thụ hưởng với người có liên quan, và quan hệ giữa những người có liên quan với nhau trong việc phát hành, chấp nhận, chuyến nhượng, bảo lãnh, thanh toán, truy đòi, khởi kiện và cầm cố thương phiếu.
  • Quan hệ thương phiếu có yếu tố nước ngoài là quan hệ thương phiếu có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia với tư cách là người ký phát, người bị ký phát, người phát hành, người chuyển nhượng, người được chuyển nhượng, người bảo lãnh, người thụ hưởng.

Đặc điểm của thương phiếu là:

  • Trừu tượng: Thương phiếu không ghi rõ nguyền nhân dẫn đến quan hệ tín dụng mà chỉ có các thông tin như tổng Số tiền nợ, người được thụ hưởng, người nợ và thời hạn thanh toán.
  • Bắt buộc: Đến thời hạn thanh toán, người đi vay (người mắc nợ) phải thanh toán ngay cho người bán vô điều kiện. Tính bắt buộc vô điều kiện được pháp luật Nhà nước bảo hộ.
  • Lưu thông: Trong thời gian hiệu lực, thương phiếu được sử dụng như phương tiện thanh toán. Người sở hữu thương phiếu có thể chuyển nó từ tay người này sang tay người khác bằng cách ký hậu chuyển nhượng, bán ra thị trường tiền tệ, chiết khấu tại các ngân hàng.
  • Tín dụng thương mại góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế nhờ giảm chi phí giao dịch do không phải qua khâu trung gian mà qua quan hệ trực tiếp. Tuy nhiên tín dụng thương mại cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, thể hiện trên các phương diện:
  • Về quy mô: Tín dụng thương mại do các doanh nghiệp (người sản xuất, kinh doanh hàng hóa) cung cấp và họ chỉ có thể cung ứng khối lượng tín dụng trong khả năng vôn hàng hóa của họ.
  • Về thời hạn cho vay: Tín dụng thương mại thường là tín dụng ngấn hạn nên không thể đáp ứng nhu cầu vay dài hạn.
  • Về phạm vi: Tín dụng thương mại chỉ được thực hiện dưới hình thức hàng hóa (hiện vật), vì vậy phạm vi hoạt động của nó chỉ giới hạn trong các doanh nghiệp có cung và cầu hàng hóa phù hợp nhau.
  • Tín dụng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ với tín dụng ngân hàng. Nó vừa tạo điều kiện cho sự mở rộng tín dụng ngân hàng thông qua các nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố, tái cầm cố thương phiếu tại các ngân hàng, vừa tạo điều kiện cho Ngân hàng Trung ương thực thi nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua bán lại thương phiếu để điều hành chính sách tiền tệ.
  • Tín dụng thương mại gắn bó chặt chẽ với thanh toán tiền hàng, dịch vụ qua ngân hàng. Phát triển các hình thức thanh toán qua ngân hàng một cách rộng khắp, chấp hành nghiêm ngặt kỷ luật thanh toán sẽ góp phần mở rộng việc sử dụng tín dụng thương mại trong nền kinh tế quốc dân.

2.2 Tín dụng ngân hàng

  • Tín dụng ngân hàng phản ánh quan hệ vay mượn vốn tiền tệ giữa các ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinli tế (Các doanh nghiệp, các cá nhân, các tổ chức xã hội, và các cơ quan nhà nước các cấp). Trong tín dụng ngân hàng, ngân hàng xuất hiện với tư cách là người huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) cho các đối tượng nói trên.
  • Đối tượng của tín dụng ngân hàng là vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội. Tín dụng ngân hàng huy động vốn dưới các hình thức: Tiền gửi (gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm), vay từ Ngân hàng Trung ương, phát hành tín phiếu.
  • Các hình thức cho vay của tín dụng ngân hàng là: Cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay thế chấp và đầu tư chứng khoán (mua trái phiếu, tín phiếu).
  • Chủ thể tham gia vào hoạt động tín dụng ngân hàng bao gồm:
  • Ngân hàng (các tố chức nhận tiền gửi) là những tổ chức trung gian Tài chính, nhận tiền gửi từ các cá nhân và các tố chức, sau đó cho vay (bao gồm các Ngân hàng thương mại, các Hiệp hội tiết kiệm và cho vay, các Hợp tác xã tín dụng).
  • Các chủ thể kinh tế khác: Các doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và các tầng lớp dân cư, là những người hoặc có tiền gửi vào ngân hàng hoặc vay vốn tiền tệ từ ngân hàng.

Tín dụng ngân hàng có ưu điểm trên các mặt sau:

  • Về khối lượng tín dụng: Tín dụng ngân hàng có khả năng cung ứng những khoản vốn lớn đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay của khách hàng. Do đối tượng tín dụng ngân hàng là tiền tệ, và các hình thức huy động phong phú nên nó có thể huy động tiền tệ tạm thời nhàn rỗi từ mọi chủ thể trong nền kinh tế, kể cả nguồn vốn giữa các ngân hàng với nhau. Điều đó đã tạo cho ngân hàng có khả năng Tài chính lớn để đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng.
  • Về thời hạn tín dụng: Tín dụng Ngân hàng lại có thể “đi vay ngắn hạn để cho vay dài hạn”. Chính nhờ khả năng chuyển hóa thời hạn này mà Ngân hàng có thể tạo điều kiện cho nhu cầu của người tích lũy và người đầu tư được đáp ứng phù hợp.
  • Về phạm vi tín dụng: Tín dụng ngân hàng có phạm vi huy động vốn cũng như cho vay rất lớn, liên quan đến các chủ thể và các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế. Bởi vậy, nó thích hợp với nhiều chủ thể vay cũng như cho vay.
  • Trong hệ thống tín dụng quốc dân, tín dụng ngân hàng là loại hình tín dụng cơ bản nhất, chiếm vị trí chủ đạo - được thể hiện như sau:
  • Do ngân hàng có một hệ thống chi nhánh bô' trí khắp lãnh thổ, thậm chí ngoài lãnh thổ có khả năng thu hút tối đa các nguồn lực Tài chính của xã hội, và phân phôi chúng đáp ứng nhu cầu vay vốn của toàn xã hội một cách đa dạng về thời hạn, về quy mô cũng như về phương hướng.
  • Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện duy trì và phát triển các loại hình tín dụng khác bằng sự thám gia rộng rãi của tín dụng ngân hàng thông qua các nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố, tái cầm cố các giấy tờ có giá, cho vay đối với ngân sách nhà nước, đối với người tiêu dùng.
  • Hệ thống ngân hàng kế cả cấp I và cấp II đều có chức năng tạo vốn bổ sung khi tổng nguồn vốn hiện có không đáp ứng yêu cầu vay vốn của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
  • Tín dụng ngân hàng có tác dụng mạnh mẽ đến chu kỳ của quá trình tái sản xuất trên tầm vi mô cũng như trên tầm vĩ mô. Một mặt, người ta sử dụng tín dụng ngân hàng để đảm bảo sự thực hiện quá trình tái sản xuất. Đồng thời người ta cũng sử dụng tín dụng ngân hàng để điều chỉnh tính chu kỳ của quá trình tái sản xuất, bằng việc điều tiết lượng tín dụng đôi với từng doanh nghiệp cũng như đôi với toàn bộ nền kinh tế quô'c dân nhằm đạt đến yêu cầu tăng trưởng cao nhưng bền vừng.
  • Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, lãi suất thị trường tín dụng ngân hàng của mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi quốc tế phát huy vai trò quan trọng hàng đầu trong việc hình thành và điều chỉnh cung cầu tín dụng trong nền kinh tế quốc dân.

Hạn chế cơ bản của tín dụng ngân hàng

  • Có độ rủi ro cao, hạn chế này cũng gắn liền với chính những ưu điểm của tín dụng ngân hàng, do việc ngân hàng có thể cho vay số tiền lớn hơn nhiều so với Số vốn tự có, hoặc có sự chuyển hóa thời hạn và phạm vi tín dụng rất rộng. Nhừng rủi ro về khả năng thu hồi vốn vay hoặc đầu tư vào dự án có lợi nhuận thấp có nguyên nhân cơ bản là sự lựa chọn đối nghịch, hay rủi ro đạo đức.
  • Chu kỳ vay của Ngân hàng không khớp với chu kỳ sản xuất kinh doanh: xuất phát từ vị trí chủ đạo của tín dụng ngân hàng, chúng ta một mặt khẳng định tín dụng ngân hàng phải gắn liền với các hoạt lộng sản xuất kinh doanh, sự vận động thăng trầm của tín dụng ngân hàng phải phù hợp với sự thăng trầm của chu kỳ sản xuất kinh doanh, cần nhận thức rõ điều này để xử lý tốt tình huống sự thăng trầm của tín dụng ngân hàng không tương thích với sự thăng trầm của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
  • Khó kiểm tra giám sát người sử dụng do tín dụng ngân hàng có mối liên hệ với phạm vi toàn xã hội dặc biệt ở các doanh nghiệp nông thôn, vùng sấu vùng xa, địa bàn rộng nên việc kiểm tra giám sát vô cùng khó khăn, dẫn đến khả năng thu hồi vốn khó khăn chậm trễ

2.3 Tín dụng thuê mua

  • Tín dụng thuê mua phản ánh những quan hệ nảy sinh giữa công ty Tài chính (Công ty cho thuê Tài chính) với những người sản xuất kinh doanh dưới hình thức cho thuê tài sản.
  • Đối tượng của tín dụng thuê mua là tài sản gồm nhà ở, văn phòng, nhà kho, phương tiện vận tải, các máy móc thiết bị.
  • Chủ thể tham gia là các công ty Tài chính (người cho thuê) với tư cách là chủ sở hữu tài sản, người đi thuê là người được quyền sử dụng tài sản và phải trả tiền thuê, gồm các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, cá nhân.
  • Hình thức tín dụng thuê mua: Có hai hình thức
  • Thuê vận hành hay còn gọi là thuê hoạt động, là hình thức thuê ngắn hạn tài sản và có những đặc trưng sau:
    • Thời hạn thuê rất ngắn so với thời hạn sử dụng của tài sản
    • Người cho thuê chịu trách nhiệm bảo dưỡng và chịu những khoản rủi ro thiệt hại về tài sản cho thuê.
    • Trong hợp đồng thuê vận hành, người thuê có quyền hủy ngang hợp đồng.
    • Thuê vận hành là hình thức thuê ngắn hạn, do vậy khi hợp đồng hết hạn, người cho thuê là chủ sở hữu tài sản có thể bán tài sản đó hoặc gia hạn hợp đồng cho thuê nếu khách hàng có nhu cầu.
  • Thuê Tài chính hay còn gọi là thuê vốn là hình thức thuê tài sản trung và dài hạn. Theo hình thức này, người cho thuê cam kết mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người thuê và nắm giữ yêu cầu đối với tài sản cho thuê, người thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được thỏa thuận và không được hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn. Kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó.
  • Bán và tái thuê: Được coi là hình thức đặc biệt của phương thức thuê Tài chính. Bán và tái thuê là hình thức thuê mua mà doanh nghiệp (người thuê) bán tài sản của chính họ cho người cho thuê (thường là công ty cho thuê), và đồng thời thuê lại tài sản mà họ vừa bán trong khoảng thời gian nhất định. Tín dụng thuê mua giúp cho doanh nghiệp có thể hiện đại hóa sản xuất theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ mới trong khi nguồn vốn tự có còn hạn chế. Hơn nữa, do điều kiện cho vay dễ dàng, hình thức tín dụng này không nhất định phải có tài sản thế chấp, nên doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận khoản vay và tránh đọng vốn trong tài sản cố định.
  • Tuy nhiên, do đôi tượng của tín dụng thuê mua là tài sản nên so với tín dụng ngân hàng, phạm vi hoạt động hẹp hơn. Mặt khác, trong tín dụng thuê mua, doanh nghiệp phải chịu chi phí sử dụng vốn cao hơn so với tín dụng thông thường.

2.4 Tín dụng tiêu dùng (cho vay tiêu dùng)

  • Cho vay tiều dùng được hiểu là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiểu của cá nhân, hộ gia đình.
  • Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn Tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế... trước khi họ có đủ khả năng về Tài chính để hưởng thụ. Do đó, cho vay tiêu dùng có những đặc điểm riêng khác với tín dụng ngân hàng nói chung:

Đặc điểm cho vay tiễu dùng

  • Khách hàng vay là cá nhân và các hộ gia đình.
  • Mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh. Do đó phụ thuộc vào nhu cầụ, tính cách của từng đối tượng khách hàng và khả năng hoàn trả của người đi vay.
  • Khách hàng vay tiêu dùng thường quan tâm đến lãi suất và số tiền họ phải thanh toán.
  • Về lãi suất, do quy mô các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay cao, do vậy, lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất cho vay thương mại.
  • Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ thu nhập, không nhất thiết phải từ kết quả của việc sử dụng những khoản vay đó.
  • Những khách hàng có việc làm, mức thu nhập ổn định và có trình độ học vấn là những tiêu chí quan trọng để ngân hàng thương mại quyêt định cho vay.

Phân loại cho vay tiêu dùng

Căn cứ vào mục đích vay có thể phân loại tín dụng tiêu dùng thành hai loại:

  • Cho vay nhà ở có thế chấp (residential mortgage loan) là các khoản cho vay nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng, mua sắm hoặc cải tạo nhà ở của cá nhân, hộ gia đình.
  • Cho vay phi nhà ở có thế chấp (nonresidential mortgage loan) đó là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sông như mua sắm phương tiện, đồ dùng, du lịch, học hành hoặc giải trí...

Căn cứ vào hình thức có thể chia cho vay tièu dùng thành hai loại:

  • Cho vay tiêu dùng gián tiếp (indirect consumer loan) là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh của các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hóa hoặc đà cung cấp các dịch vụ cho người tiêu dùng, hình thức này ngân hàng cho vay thông qua các doanh nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng.

Hình thức cho vay này có những ưu điểm sau:

  • Thứ nhất: Các ngân hàng thương mại dễ dàng mở rộng và tăng doanh số cho vay.
  • Thứ hai: Các ngân hàng thương mại sẽ tiết kiệm và giảm được các chi phí khi cho vay
  • Thứ ba: Là cơ sở để mở rộng quan hệ với khách hàng và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động khác của ngân hàng.
  • Thứ tư: Nếu ngân hàng thương mại quan hệ tốt với các doanh nghiệp bán lẻ, thì hình thức cho vay tiêu dùng gián tiếp có mức độ rủi ro thấp hơn cho vay tiêu dùng trực tiếp.

Hạn chế của cho vay tiêu dùng

  • Thứ nhất: Khi cho vay, các ngân hàng thương mại không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng (người vay vốn) mà thông qua các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hóa, dịch vụ.
  • Thứ hai: Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng (cả trước, trong và sau khi vay vốn) khi doanh nghiệp thực hiện bán lẻ hàng hóa, dịch vụ, nhất là trong việc lựa chọn khách hàng.
  • Thứ ba: Kỹ thuật và quy trình nghiệp vụ với hĩnh thức cho vay này rất phức tạp.
  • Cho vay tiêu dùng trực tiếp (Direct consumer loan) là ngân hàng và khách hàng trực tiếp gặp nhau để tiến hành cho vay hoặc thu nợ.

Hình thức này có những ưu điểm sau:

  • Thứ nhất: Ngân hàng có thể sử dụng triệt để trình độ, kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng của cán bộ tín dụng, do đó các khoản cho vay này thường có chất lượng cao hơn so với cho vay thông qua doanh nghiệp bán lẻ.
  • Thứ hai: Cán bộ tín dụng khi cho vay đặc biệt coi trọng chất lượng các khoản vay, song doanh nghiệp bán lẻ hàng hóa, dịch vụ thường coi trọng nhiều đến việc tăng doanh số bán hàng hơn là chất lượng các khoản vay, hơn nữa các doanh nghiệp thường đưa ra quyết định "tín dụng" một cách nhanh chóng, nên dẫn đến tình trạng có những khoản tín dụng cấp ra không chính đáng, ngược lại có thể từ chối đối với những khách hàng tốt.
  • Thứ ba: Hình thức cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn hình thức cho vay gián tiếp, vì khi quan hệ trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng sẽ xử lý tốt các phát sinh, hơn nữa có khả năng làm thỏa mãn quyền lợi cho cả ngân hàng và khách hàng.
  • Thứ tư: Vì đôi tượng khách hàng rất rộng do đó việc đưa ra các dịch vụ, tiện ích mới là rất thuận lợi, đồng thời là hình thức để tăng cường quảng bá hình ảnh của ngân hàng đến với khách hàng.

Một số phương pháp cho vay tiêu dùng

  • Các ngân hàng trên thê giới thường sử dụng hai phương pháp chính đó là:
    • Phương pháp hệ thống điểm: (score System) là tập hợp các tiêu thức khác nhau liên quan đến từng đối tượng khách hàng. Mỗi tiêu thức tương ứng với một điểm số nhất định, tuy theo từng tiêu thức và tầm quan trọng trong hệ thống các tiêu thức.
    • Tuy nhiên, phương pháp hệ thống điểm số trên phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như môi trường, kinh tế xã hội... nếu các yếu tố này có biết động lớn thì ngân hàng cần phải xem xét điều chỉnh lại các tiêu thức cho phù hợp bảo đảm chất lượng cho vay và thu hồi nợ.
    • Phương pháp phán đoán (Judgement method) là quá trình trong đó ngân hàng tiến hành phân tích, đánh giá toàn bộ thông tin định tính và định lượng về khách hàng nhằm hạn chế các khoản cho vay có rủi ro cao. Vì khi quyết định cho vay ngân hàng cần phải quan tâm đến nhiều vấn đề khác như khả năng trả nợ của khách hàng, điều kiện kinh tế hiện tại của khách hàng, các điều kiện khác của khách hàng có phù hợp với cơ chế, chính sách của ngân hàng hay không ...

Xu hướng cho vay tiêu dùng tại Việt Nam

  • Cho vay tiêu dùng cách đây khoảng 20 mươi năm về trước còn là khái niệm "khá mới" đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam, nhưng chỉ một vài năm trở lại đây, hoạt động cho vay tiêu dùng đã trở thành mục tiêu của nhiều TCTD, nhất là các TCTD ngoài nhà nước. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống của nhân dân đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu chi tiêu phục vụ đời sông ngày càng cao, đó là điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng nói chung, lĩnh vực cho vay tiêu dùng nói riêng phát triển. Nếu như ở các nước phát triển, tỷ trọng cho vay tiêu dùng thường chiếm khoảng từ 40% đến 50% trên tổng dư nợ, thì tỷ lệ này của các TCTD Việt Nam hiện chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng hơn 5% trôn tổng dư nợ tín dụng.
  • Trong những năm gần đây, việc đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động ngân hàng, và việc mở rộng mạng lưới giao dịch đã tạo điều kiện đế phát triển các dịch vụ ngân hàng mới và hiện đại. Sự ra đời của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại đa tiện ích như: ATM, Internet Banking, Home Banking, PC Banking, Mobile Banking... đã đánh dấu những bước phát triển mới của thị trường dịch vụ ngân hàng Việt nam. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ bước đầu đã được các ngân hàng thương mại quan tâm và tập trung khai thác, các phương tiện thanh toán và dịch vụ thanh toán dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, đã tạo ra một diện mạo mới cho dịch vụ thanh toán của ngành ngân hàng Việt nam.
  • Đẩy mạnh tín dụng tiêu dùng là xu hướng tất yếu, là điều kiện khách quan trong điều kiện nền kinh tế thị trường, song đồng thời đó cũng là chiến lược, là mục tiêu và là thị trường đầy tiềm năng của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Có thể nói trong hơn 10 năm trở lại đây Việt Nam là nước có nền kinh tế đang phát triển với tốc độ rất cao, cao nhất khu vực Đông Nam Á. Trong 5 năm qua GDP đạt bình quân trên 7%, đời sông nhân dân ngày càng được cải thiện. Với dân số trên 82 triệu người là điều kiện vô cùng thuận lợi, là thị trường "khổng lồ" cho lĩnh vực cho vay tiêu dùng phát triển. Vừa qua các tập đoàn kinh doanh lớn của nước ngoài như Metro Cash Carry, Visa International ... đã nghiên cứu và đưa ra các thông tin về nhu cầu tiêu dùng của người Việt Nam hiện tại và dự đoán trong tương lai. Có thế nói đó là bức tranh tương đối toàn cảnh của người tiêu dùng Việt Nam. Thu nhập của các hộ gia đình ngày càng tăng do đó mức chi tiêu của các hộ gia đình cũng tăng theo. Như vậy, có thế thấy tiềm năng về lĩnh vực cho vay tiêu dùng là rất rộng lớn, đang mở ra cho hoạt động của các ngân hàng thương mại.
  • Cho vay mua, xây dựng và sửa chữa lớn nhà ở: Do đặc điểm của người Á Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng, việc mua đất, xây hoặc sửa chữa nhà là công việc trọng đại trong đời người. Do vậy, đê chuẩn bị làm các việc trên họ cần một khoảng thời gian nhất định có thể hàng chục năm để tích lũy nguồn Tài chính và các điều kiện khác, trường hợp nếu họ còn thiếu nguồn Tài chính thì chủ yếu là vay của người thân hoặc bạn bè rất ít vay tiền từ ngân hàng, vấn đề này xuất phát từ thói quen ngại vay mượn của người Việt Nam, song cũng một phần do thị trường Tài chính chưa phát triển đã làm hạn chế mục đích vay tiền của nhân dân. Trong năm năm trở lại đây, các dịch vụ tiện ích của ngân hàng đã phát triển với tốc độ khá cao, đã tạo điều kiện cho người dân dễ dàng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng đế hoạt động sản suất kinh doanh cũng như nhu cầu cải thiện cuộc sông. Các ngân hàng đang hướng tới cung cấp dịch vụ bán lẻ để đáp ứng nhu cầu của cá nhân và các hộ gia đình. Trong đó việc cho vay với mục đích mua, xây dựng hoặc sửa chữa lớn nhà ở đã có rất nhiều ngân hàng triển khai thực hiện như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (AgriBank), Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long (MHB), Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (ACB), Ngân hàng Nhà Hà Nội (HabuBank), Ngân hàng Nhà TP HCM (HHB), Ngân hàng Sài Gòn Thương tín (SacomBank), Ngân hàng Kỹ thương (TechcomBank)...
  • Tuy nhiên, các khoản cho vay để mua, xây dựng hoặc sửa chữa lớn về nhà ở trong thời gian vừa qua chủ yếu là triển khai thực hiện chính sách của nhà nước chiếm tỷ trọng lớn, riêng AgriBank đã chiếm khoảng 86% các khoản vay liên quan đến nhà ở. Vì vậy, thị trường cho vay có liên quan đến nhà ở còn rất lớn, trong đó nhu cầu về nhà ở khu vực đô thị là rất cấp bách. Theo Quy hoạch tống thê định hướng cho Phát triển Đô thị đến năm 2020, thì dân Số đô thị sẽ chiếm khoảng 45% dân số cả nước, như vậy sức ép về nhà ở càng lớn, nhất là hai thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, để mở rộng cho vay lĩnh vực này, các ngân hàng thương mại cần tổ chức các cuộc điều tra xã hội rộng rãi để nắm bắt nhu cầu thực sự của người dân, từ đó xây dựng chiến lược khách hàng và đề ra các giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay về lĩnh vực nhà ở.
  • Cho vay qua thẻ: Số lượng tài khoản cá nhân trong toàn hệ thống ngân hàng cuối năm 2004 tăng gần 10 lần so với năm 2000 (từ 135 nghìn tài khoản lên tới 1 triệu 297 nghìn tài khoản). Số lượng tài khoản cá nhân đến cuối năm 2004 là 2 triệu; năm 2005 đã tăng lên 5 triệu tài khoản với số dư khoảng 20.000 tỷ đồng. Tốc độ tăng trung bình mỗi năm khoảng 150% về Số tài khoản và 120% về sô dư. Đến tháng 6 năm 2006, lượng ATM tại hệ thông ngân hàng là 2.154 máy (so với 101 máy năm 2002), Số lượng đơn vị chấp nhận thẻ khoảng 12.000 (so với 8.789 đơn vị chấp nhận thẻ năm 2003). Song, số lượng thẻ phát hành và tỷ trọng thanh toán qua thẻ (không dùng tiền mặt) hiện còn quá nhỏ bé so với tiềm năng và so với các nước trong khu vực cũng như quốc tế, theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, thị trường Việt nam sẽ có khoảng hơn 10 triệu người có khả năng sử dụng các loại thẻ thanh toán - trong khi hiện nay số lượng khách hàng sử dụng thẻ mới đạt tới con Số 2 triệu. Đây là cơ hội và cũng là những thách thức đôi với các ngân hàng thương mại Việt Nam.
  • Ngoài ra, là một nước đang phát triển, đời sống của nhân dân ngày một nâng cao thì nhu cầu về học tập, chữa bệnh, đi du lịch ở nước ngoài ngày càng nhiều, đó là thị trường rất hấp dẫn để các ngân hàng thương mại mở rộng tín dụng bằng việc cho vay qua thẻ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Với mức thu nhập trong dân cư ngày càng cao thì nhu cầu tiêu dùng cũng rất lớn, đó là điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển thẻ của ngân hàng, do tính an toàn và thuận lợi khi sử dụng, nhất là khi ra nước ngoài để chữa bệnh, đi du lịch hay học tập. Như vậy, thị trường tiềm năng để các ngân hàng thương mại thực hiện cho vay qua thẻ là rất lớn, và thuận lợi do các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam hiện chưa được phép phát hành thẻ, song điều kiện thuận lợi này sẽ mất khi hoạt động ngân hàng Việt Nam hội nhập với nền Tài chính khu vực và quốc tế. Do vậy, ngay từ bây giờ các ngân hàng thương mại Việt Nam cần phải tận dụng triệt để các cơ hội, các điều kiện thuận lợi để phát triển dịch vụ thẻ, đồng thời đẩy nhanh việc đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng dịch vụ.
  • Cho vay tiêu dùng thông thường: Mặc dù nhu cầu tiêu dùng của người dân là rất lớn như mua phương tiện phục vụ nhu cầu đi lại, mua tiện nghi sinh hoạt để cải thiện cuộc sống ... nhưng thời gian qua mới chỉ có một vài ngân hàng thực hiện cho vay phục vụ các nhu cầu này của người dân, song chỉ tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, Đà Nẵng...và cũng chỉ chủ yếu là cho vay đối với cán bộ, công nhân viên chức nhà nước với mức vay tương đôi thấp so với nhu cầu (mặc dù vừa qua một số ngân hàng đã nâng mức vay lên đến 50 triệu đồng không phải thế chấp tài sản, nhưng số lượng người được cho vay với mức này là rất ít) và thời hạn thường ngắn chủ yếu là từ 1 đến 3 năm, các trường hợp được vay với thời hạn từ 5 năm trở lên không nhiều. Thực tế trong những năm qua cho thấy, khi các ngân hàng thương mại tiến hành triển khai cho vay tiêu dùng, số lượng khách hàng có nhu cầu đến ngân hàng để’ liên hệ vay đã vượt mức dự đoán của các ngân hàng, hầu hết các ngân hàng đều quá tải. Song iiố lượng khách hàng đó mới chủ yếu là cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, các đối tượng khách hàng khác hầu như chưa tiếp cận được với vốn ngân hàng, nhưng đã vượt khả năng đáp ứng của ngân hàng. Qua đó cho thấy, tiềm năng để phát triển loại hình tín dụng này là cực kỳ lớn, đang cần các ngân hàng có chiến lược và chính sách cụ thể để đáp ứng với nhu cầu của nhân dân.
  • Thị trường Tài chính Việt nam đã đang và sẽ ngày càng phát triển cả về quy mô, hình thức, chất lượng và cấu trúc tham gia thị trường. Theo lộ trình gia nhập WTO, Việt nam đang và sẽ thực hiện đối xử công bằng giữa các TCTD trong nước và TCTD nước ngoài về các dịch vụ ngân hàng, theo hướng loại bỏ căn bản các hạn chế tiếp cận thị trường dịch vụ ngân hàng trong nước; Hoàn thiện các loại hình TCTD, phương thức và hình thức cung cấp dịch vụ ngân hàng có hiệu quả để bảo đảm khả năng tiếp cận của các thành phần khách hàng đến với dịch vụ ngân hàng, đồng thời hỗ trợ cho các đốì tượng chính sách, đối tượng ưu tiên có khả năng tạo ra tăng trưởng và năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế. Phát triển các dịch vụ ngân hàng trong dân cư đặc biệt là cho vay tiêu dùng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng nói chung, nhằm cải thiện rõ rệt nền văn minh ngân hàng ở Việt Nam, và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường hàng hóa, dịch vụ đời sông trong xã hội với các dịch vụ ngân hàng.
  • Hiện nay do tình hình lạm phát ở Việt Nam, theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô hảo đảm an sinh xã hội, thì cho vay về đầu tư kinh doanh bất động sản và cho vay kinh doanh chứng khoán bị hạn chế.

2.5 Tín dụng quốc tế

  • Tín dụng quốc tế là mối quan hệ tín dụng giữa các Nhà nước, giữa các cơ quan của các Nhà nước với nhau, hoặc với Ngân hàng quốc tế và các tổ chức quốc tế, các cá nhân người nước ngoài và giữa các doanh nghiệp của các nưđc với nhau.
  • Tín dụng quốc tế phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế của một quốc gia với các chủ thề kinh tế của các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế.
  • Đối tượng tín dụng quốc tế có thể là hàng hóa (dây chuyền sản xuất, thiết bị hàng hóa), cũng có thể là tiền tệ.
  • Chủ thể tham gia có thể là chính phủ, các cơ quan của Nhà nước, các ngân hàng nước ngoài, ngân hàng quốc tế, các tố chức quốc tế, doanh nghiệp, các cá nhân.
  • Tín dụng quốc tế có khả năng đáp ứng được nhu cầu vổn cho phát triển kinh tế xã hội khi mà nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp, góp phần nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và kiến thức chuyên môn của người lao động.
  • Tuy nhiên, nguồn vốn này thường bị động do phụ thuộc bởi các yếu tố từ bên ngoài. Ngoài những rủi ro tín dụng nói chung, tín dụng quốc tế còn bị ảnh hưởng bởi rủi ro tỷ giá, các điều kiện về chính trị, ngoại giao quốc tế.
  • Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động quan trọng bậc nhất của NHTM vì thông qua hoạt động này, Ngân hàng có đầy đủ nguồn vốn để thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng (cho vay) và cung cấp các dịch vụ Ngân hàng. Huy động vốn được phản ánh bên phần tài sản Nợ của Ngân hàng.
  • Theo Luật các Tổ chức Tín dụng hiện hành của nước ta thì NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau:
    • Nhận tiền gửi của các tổ chức cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn và các loại tiền gửi khác
    • Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vổn của cá nhân trong nước và ngoài nước khi được thống đốc NHNN chấp thuận.
    • Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và các tổ chức nước ngoài
    • Vay vốn ngắn hạn của NHNN theo quy định của NHNN Việt Nam