Bài 3: Pháp luật tố tụng dân sự (Những quy định chung của pháp luật tố tụng dân sự)


Mời các bạn cùng tham khảo nội dung bài giảng Bài 3: Pháp luật tố tụng dân sự (Những quy định chung của pháp luật tố tụng dân sự) sau đây để tìm hiểu về các nguyên tắc cơ bản, chủ thể tham gia tố tụng, thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự của Toà án nhân dân, thẩm quyền giải quyết các yêu cầu dân sự của Toà án nhân dân, thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự của Toà án nhân dân trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng.

Tóm tắt lý thuyết

1. Các nguyên tắc cơ bản

Các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự mang tính bắt buộc chung đối với các chủ thể tham gia tố tụng. Việc tuân thủ các nguyên tắc nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho Toà án nhân dân THTT một cách nhanh chóng, thuận lợi, đồng thời bảo đảm cho các đương sự có cơ hội thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Luật Tố tụng dân sự có những nguyên tắc đặc trưng sau:

Thứ nhất: Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự (Điểu 5 BLTTDS). Theo nguyên tắc này, Toà án chỉ được phép giải quyết vụ việc dân sự trên cơ sở có đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu của các đương sự và chỉ dược phép giải quyết trong phạm vi các yêu cầu của đương sự. Quyền quyết định và định đoạt của đương sự được thực hiện bất kì thời điểm nào của các giai đoạn tố tụng ở sơ thẩm và phúc thẩm. Các đương sự có quyền bằng hành vi tố tụng của mình làm phát sinh, thay đổi hoặc chám dứt quá trình tố tụng.

Ví dụ: Họ tự quyết định việc có gửi đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cấu hay không.

Sau khi khởi kiện, yêu cẩu họ có thể thay đổi, bổ sung các yêu cẩu, có thể hoà giải với nhau, có thể rút đơn để chấm dứt quá trình tố tụng, có thể kháng cáo bản án sơ thẩm để được xét xử, giải quyết tiếp ở cấp phúc thẩm...

Thứ hai: Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự (Điều 6 BLTTDS): Xuất phát từ nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự nên pháp luật tố tụng quy định đương sự có quyền chủ động yêu cầu Toà án giải quyết các vụ việc dân sự thì họ có nghĩa vụ phải chủ động tìm kiếm chứng cứ cung cấp cho Toà án để làm cơ sở giải quyết các yêu cầu đó. Đương sự phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho tính hợp pháp và tính có căn cứ của các yêu cầu họ cấn Toà án giải quyết hoặc đưa ra chứng cứ để phản đối yêu cầu của các đương sự khác. Nếu đương sự không cung cấp chứng cứ thì họ phải chịu hậu quả bất lợi trong quá trình giải quyết vụ án.

Ví dụ: Ông A khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà B trả cho mình khoản nợ 50.000.000 đồng thì ông A phải có chứng cứ vế việc bà B có vay số tiền đó mà chưa trả. Nếu ông A không cung cấp được chứng cứ đó thì cho dù trên thực tế bà B có vay tiền và chưa trả thì Toà án cũng bác bỏ yêu cẩu khởi kiện của ông A và xác định bà B không phải trả tiến cho ông A.

Toà án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ mang tính hỗ trợ trong những trường hợp quy định tại khoản 2, Điều 97 BLTTDS chứ không có trách nhiệm chủ động thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ việc dân sự.

Thứ ba: Nguyên tắc hoà giải trong tố tụng dân sự (Điều 10 BLTTDS). Áp dụng nguyên tắc hoà giải trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự là cũng nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc trưng của vụ án dần sự và việc dân sự nên nguyên tắc hoà giải chủ yếu được áp dụng vào quá trình Toà án giải quyết vụ án dân sự, đối với việc dân sự hoà giải chỉ bắt buộc áp dụng đối với trường hợp giải quyết thuận tình li hôn còn những việc dần sự khác không có thủ tục hoà giải, bởi việc dân sự không có tranh chấp giữa các đương sự. Khi giải quyết vụ án dân sự Toà án có nghĩa vụ hoà giải giữa các bên tranh chấp trước khi đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp tranh chấp liên quan đến vấn đề đòi bổi thường thiệt hại cho tài sản của Nhà nước và những vụ tranh chấp phát sinh từ các giao dịch trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Việc áp dụng nguyên tắc hoà giải có ý nghĩa rất lớn đối với các bên đương sự và Toà án. Bởi lẽ, nếu hoà giải thành thì Toà án không phải tiến hành mở phiên toà sơ thẩm và phiên toà phúc thẩm, việc xét xử không diễn ra sẽ rút ngắn được thời hạn giải quyết tranh chấp. Bên cạnh dó, do hoà giải thành nên việc thi hành án cũng sẽ thuận lợi hơn rất nhiều so với trường hợp Toà án xét xử.

Ngoài các nguyên tắc đặc trưng nêu trên, Bộ luật Tố tụng còn quy định các nguyên tắc cơ bản như: Nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự (Điều 3);

Nguyên tắc quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (Điều 4); Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền (Điều 7); Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự (Điều 8); Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (Điều 9); Nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử các vụ án dân sự (Điều 11); Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử vụ án dân sự, Thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 12); Nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan THTT, người THTT (Điều 13); Nguyên tắc Toà án xét xử tập thể (Điều 14); Nguyên tắc toà án xét xử kịp thời, công bằng, công khai (Điều 15); Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự (Điều 16); Nguyền tắc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (Điều 17); Nguyên tắc giám đốc việc xét xử (Điều 18); Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Toà án (Điều 19); Nguyên tắc tiếng nói, chữ viết dùng trong tố tụng dân sự (Điều 20); Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tổ tụng dân sự (Điều 21); Nguyên tắc trách nhiệm chuyển giao tài liệu, giấy tờ của Toà án (Điều 22); Nguyên tắc việc tham gia tố tụng dân sự của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Điều 23); Nguyên tắc bảo dảm tranh tụng trong xét xử (Điều 24); Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự (Điều 25).

2. Chủ thể tham gia tố tụng

Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự được chia làm ba nhóm dựa trên đặc trưng pháp lí của các chủ thể:

2.1 Nhóm các cơ quan tiến hành tố tụng

Nhóm chủ thể này nhân danh quyền lực nhà nước để tiến hành các hoạt động tố tụng. Khoản 1, Điều 46 BLTTDS 2015 quy định: Cơ quan THTT dân sự gổm có Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân.

Toà án nhân dân: Toà án nhân dân là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử của nước CHXHCN Việt Nam. Trong tố tụng dân sự, Toà án nhân dân xét xử các vụ án dân sự và giải quyết các việc dân sự trong phạm vi yêu cầu của đương sự nhằm tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự. Toà án thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua những người THTT gồm: Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư kí Toà án, Thẩm tra viên. Hoạt động xét xử của Toà án có hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm. Bén cạnh đó còn có các thủ tục đặc biệt nhằm sửa chữa khắc phục các sai lầm, vi phạm pháp luật cho các bản án, quyết định dã có hiệu lực gồm: Thủ tục giám đốc thẩm; Thủ tục tái thẩm; Thủ tục dặc biệt xét lại quyết định của Hội dồng Thẩm phán Toà án nhân dần tối cao.

Viện Kiểm sát nhân dân: Viện Kiểm sát tham gia trong tố tụng dân sự nhằm thực hiện chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật của Toà án nhân dân trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành được xác định như sau:

Kiểm tra giám sát việc thụ lí, lập hồ sơ vụ việc dân sự của Toà án nhân dân, hoạt động của những người tiến hành và tham gia tố tụng.

Tham gia phiên toà và phát biểu ý kiến: Tham gia phiên toà sơ thẩm (đối với những vụ án do Toà án thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người mát năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và trường hợp vụ việc dân sự được toà án thụ lí nhưng chưa có điểu luật để áp dụng) và phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lí vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Tham gia phiên toà, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và phiên họp giải quyết việc dân sự.

Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với các bản án, quyết định dân sự chưa có hiộu lực pháp luật theo quy định của pháp luật.

Kiến nghị với Chánh án Toà án nhân dân đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc Thẩm phán không ra quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cáp tạm thời.

Yêu cầu, kiến nghị đối với Toà án cùng cấp và cấp dưới bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật.

Viộn Kiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ thông qua những người THTT gồm: Viện trưởng, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên.

2.2 Đương sự

Khái niệm đương sự trong tố tụng dân sự bao gồm đương sự trong vụ án dân sự và đương sự trong việc dân sự. Đương sự trong vụ án có nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đặc trưng pháp lí của nhóm chủ thể đương sự là họ có quyền tự định đoạt và quyền, lợi ích của họ là đối tượng Toà án xem xét giải quyết trong vụ việc dân sự.

Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm. Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. Người có quyến lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyến lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận dưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ví dụ: Ông A và bà B có ba người con là M, N, H. Sau khi ông A và bà B chết không để lại di chúc, M khởi kiện tranh chấp với N về việc phân chia di sản thừa kế của cha mẹ. Khi Toà án giải quyết vụ án này, M dược xác định có tư cách nguyên đơn, N là bị đơn và H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Đương sự trong việc dân sự bao gồm: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Các đương sự trong viộc dân sự không có đối kháng, mâu thuẫn về lợi ích, không dưa ra yêu cấu làm phát sinh nghĩa vụ của người khác đối với mình.

Ví dụ: Anh A gửi đơn yêu cầu Toà án tuyên bố chị B là người mất năng lực hành vi dân sự. Đây là việc dân sự nên không có nguyên đơn, bị đơn, mà anh A được xác định là người gửi đơn yêu cầu.

2.3 Những người tham gia tố tụng khác

Nhóm chủ thể tham gia tố tụng khác gồm có:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: là người được đương sự nhờ và được Toà án chấp nhận tham gia tổ tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Những người sau đây được Toà án chấp nhận làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư; Trợ giúp viên pháp lí hoặc người tham gia trợ giúp pháp lí theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lí; Đại diện của tổ chức đại diện tập thể người lao động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động theo quy định của pháp luật về lao động, công đoàn; Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa bị kết án hoặc bị kết án nhưng đã được xoá án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lí hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục; không phải là cán bộ, công chức trong các ngành Toà án, Kiểm sát và công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau. Nhiều người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể cùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một đương sự trong vụ án.

Người làm chứng: là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ án, được Toà án triệu tập tham gia tố tụng. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng.

Người giám định: là người có kiến thức, kinh nghiệm cần thiết theo quy định của pháp luật về lĩnh vực có đối tượng cần giám định được các bên đương sự thoả thuận lựa chọn hoặc được Toà án trưng cầu để giám định đối tượng đó theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự.

Người phiên dịch: là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt. Người phiên dịch được các bên đương sự thoả thuận lựa chọn và được Toà án chấp nhận hoặc được Toà án yêu cầu để phiên dịch.

Người đại diện: người dại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo uỷ quyền.

Những chủ thể này tham gia tố tụng không vì lợi ích của họ mà nhằm hỗ trợ dương sự và giúp Toà án giải quyết vụ việc dân sự một cách có căn cứ và hợp pháp.

3. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự của Toà án nhân dân

3.1 Các tranh chấp về lĩnh vực dân sự

Cá nhân, cơ quan tổ chức được quyền khởi kiện yêu cáu Toà án giải quyết các tranh chấp về quyền nhân thân và quyền tài sản phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự theo quy định tại Điểu 26 BLTTDS 2015, bao gồm:

  • Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân.
  • Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.
  • Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.
  • Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp các bên chủ thể trong quan hệ tranh chấp đều có mục đích thu lợi nhuận.
  • Tranh chấp về thừa kế tài sản.
  • Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
  • Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cẩu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính.
  • Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật Tài nguyên nước.
  • Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về dất đai, tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
  • Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí.
  • Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
  • Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
  • Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng kí mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
  • Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Khi có tranh chấp về quan hộ dân sự các bên có quyền hoà giải, thương lượng để giải quyết hoặc có thể gửi đơn khởi kiện đến Toà án yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên, riêng trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng dất, các bên khi có tranh chấp bắt buộc phải gửi đơn đến ƯBND phường, xã, thị trấn nơi có đất tranh chấp yêu cẩu hoà giải. Nếu hoà giải không đạt kết quả mới được quyền gửi đơn khởi kiện đến Toà án có thẩm quyền. Trường hợp chưa thông qua thủ tục hoà giải tại UBND thì đơn kiện sẽ bị Toà án trả lại và không thụ lí giải quyết.

3.2 Các tranh chấp về lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Điều 28 BLTTDS 2015 quy định các tranh chấp về hôn nhân và gia đình được khởi kiện tại Toà án gồm:

  • Li hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản sau khi li hôn, chia tài sản sau khi li hôn.
  • Tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
  • Tranh chấp về thay đổi người nuôi con sau khi li hôn.
  • Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ.
  • Tranh chấp về cấp dưỡng.
  • Tranh chấp về sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
  • Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam nữ chung sống với nhau như vợ chổng mà không đăng kí kết hôn hoặc khi huỷ kết hôn trái pháp luật.
  • Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Khi có tranh chấp phát sinh trong quan hệ hôn nhân và gia đình, các bên có thể gửi đơn khởi kiện đến Toà án yêu cầu giải quyết, khồng bắt buộc thông qua thủ tục hoà giải trước khi khởi kiện. Tuy nhiên, trường hợp trước khi khởi kiộn ra Toà án, các bên gửi đơn đến ban tư pháp phường, xã yêu cầu hoà giải thì pháp luật không cấm và tư pháp phường, xã vẫn có quyền tiến hành hoà giải giữa các bên tranh chấp.

3.3 Các tranh chấp về kinh doanh, thương mại

Theo Điều 30 BLTTDS 2015, các tranh chấp kinh doanh, thương mại được khởi kiện tại Toà án chia thành các nhóm với các đặc điểm như sau:

  • Tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
  • Tranh chấp vẽ sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
  • Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch chuyến nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
  • Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lí trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần giữa các thành vicn của công ty với nhau liên quan dến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
  • Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

3.4 Các tranh chấp về lao động

Tranh chấp lao động (TCLĐ) được khởi kiện tại Toà án chia làm các nhóm sau đây:

TCLĐ cá nhân giữa người lao động với NSDLĐ phải thông qua thủ tục hoà giải của Hoà giải viên lao động mà hoà giải thành nhưng các bôn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hoà giải không thành hoặc không hoà giải trong thời hạn do pháp luật quy định... (Tuy nhiên, các TCLĐ cá nhân sau đây không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở: Tranh cháp về xử lí kỉ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ; Tranh chấp về bổi thường thiệt hại, về trợ cấp khi chấm dứt HĐLĐ; Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với NSDLĐ; Tranh chấp về BHXH theo quy định của pháp luật về BHXH, về bảo hiểm y tế (BHYT) theo quy định của pháp luật về BHYT, về bảo hiểm thất nghiệp (RHTN) theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao dộng, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng).

TCLĐ tập thể về quyền giữa tập thể lao động với NSDLĐ theo quy định của pháp luật về lao động đã được Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết mà tập thể lao động hoặc NSDLĐ không đồng ý với quyết định của Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh không giải quyết.

Tranh chấp liên quan đến lao động gồm: Tranh chấp về học nghề, tập nghề; Tranh chấp về cho thuê lại lao động; Tranh chấp về quyền công đoàn, kinh phí công đoàn; Tranh chấp về an toàn lao động, vệ sinh lao động; Tranh chấp về bối thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp; Các tranh chấp khác về lao dộng trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy dịnh của pháp luật.

4. Thẩm quyền giải quyết các yêu cầu dân sự của Toà án nhân dân

Toà án nhân dân có quyền giải quyết các việc dân sự phát sinh từ các yêu cầu của các cá nhân, cơ quan, tổ chức ở những lĩnh vực sau đây:

4.1 Những yêu cầu phát sinh từ quan hệ dân sự

Bao gồm: Yêu cầu tuyên bổ hoặc huỷ bỏ một người mát năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú và quản lí tài sản của người đó; Yêu cầu tuyên bố hoặc huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích; Yêu cầu tuyên bố một người đã chốt, huỷ bỏ quyết định tuyền bố một người đã chết; Yêu cẩu công nhận và cho thi hành tại Viột Nam bản án, quyết định vê dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định vế dân sự, quyết dịnh về tài sản trong các bản án, quyết định về hành chính, hình sự của Toà án nước ngoài mà không có ycu cầu thi hành án tại Việt Nam; Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; Yêu cầu công nhận kết quả hoà giải ngoài toà án; Yêu cẩu công nhận tài sản có trên lãnh thể Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lí đối với tài sản vô chủ trên lãnh thể Việt Nam; Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và các yêu cáu khác theo quy định của Luật Thi hành án dán sự; Các yêu cầu khác về dân sự trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

4.2 Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình

Bao gồm: Yêu cầu về huỷ kết hôn trái pháp luật; Yêu cầu công nhận thuận tình li hôn, thoả thuận nuôi con, chia tài sản khi li hôn; Yêu cầu công nhận thoả thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi li hôn hoặc công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi li hôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy dịnh của pháp luật về hôn nhân và gia đình; Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi li hôn; Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi; Yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ theo quy dịnh của pháp luật hôn nhân và gia đình; Yêu cầu công nhận thoả thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Toà án; Yêu cầu tuyên bố vô hiộu thoả thuận vẽ chế độ tài sản của vợ chỏng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; Ycu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình; Các yêu cầu khác vế hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyến giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

4.3 Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại

Bao gồm: Yêu cầu huỷ bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp; Yêu cẩu liên quan đến việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh cháp theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại; Yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt Nam, về hàng hải Việt Nam, trừ trường hợp bắt giữ tàu bay, tàu biển để đảm bảo giải quyết vụ án; Yêu cẩu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành án tại Việt Nam; Ycu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh, doanh thương mại của trọng tài nước ngoài; Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

4.4 Những yêu cầu về lao động

Bao gồm: Yêu cầu tuyên bố HĐLĐ, thoả ước lao động tập thể vô hiệu; Yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công; Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết dịnh lao động của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành án tại Việt Nam; Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết lao dộng của trọng tài nước ngoài; Các yêu cầu khác về lao động trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

5. Thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự của Toà án nhân dân trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

BLTTDS 2015 quy định Toà án không được quyền từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lí do chưa có điểu luật để áp dụng. Theo đó, nếu chưa có luật áp dụng thì toà án áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng: Toà án áp dụng tập quán đe giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bcn không có thoả thuận và pháp luật không quy định. Tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điếu 3 BLDS năm 2015. Khi yêu cầu Toà án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Toà án xem xét áp dụng. Toà án có trách nhiệm xác định giá trị áp dụng của tập quán bảo đảm đúng quy định tại Điểu 5 của BLDS. Trường hợp các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự. Toà án áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thoả thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán dược áp dụng. Khi áp dụng tương tự pháp luật, Toà án phải xác định rõ tính chất pháp lí của vụ việc dân sự, xác định rõ ràng trong hộ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào diều chỉnh quan hệ đó và xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự. Toà án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng đổ giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là những nguyên tắc được quy định tại Điều 3 BLDS năm 2015. Án lệ được Toà án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bổ. Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó.