Bài 3: Hình thức và bộ máy nhà nước


Mời các bạn cùng tham khảo nội dung bài giảng Bài 3: Hình thức và bộ máy nhà nước sau đây để tìm hiểu về hình thức nhà nước, bộ máy nhà nước.

Tóm tắt lý thuyết

1. Hình thức nhà nước

1.1 Khái niệm hình thức nhà nước

Hình thức nhà nước được hiểu là những cách thức tổ chức và phương pháp để thực hiện quyền lực nhà nước. Khái niệm hình thức nhà nước có hai vấn đổ cơ bản:

Thứ nhất, hình thức, cách thức tổ chức quyển lực nhà nước, trong đó được chia thành hai nội dung: cách thức tổ chức quyền lực tối cao ở trung ương (được gọi là hình thức chính thể) và tổ chức quyển lực theo đơn vị hành chính - lãnh thổ (còn gọi là hình thức cấu trúc).

Thứ hai, phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước (được gọi là chế độ chính trị).

Cũng là cơ quan đại diện cho cử tri, Nghị viện Anh có thể thành lập, bất tín nhiệm và giải tán Chính phủ; trong khi Quốc hội Mĩ không thành lập, khóng thể giải tán Chính phủ và cách chức Tổng thống Mĩ. Sự khác nhau này thể hiện cách thức tổ chức, thiết lập mối quan hệ giữa các cơ quan quyển lực nhà nước cao nhất ở trung ương hay nói cách khác là sự khác nhau về hình thức chính thể.

Cũng trong một quốc gia, một số bang ở Mĩ cho phép mang vũ khí, trong khi một số bang khác thì không; hoặc một số bang không cho phép phá thai, một số cho phép có điều kiện, một số chỉ cần người phụ nữ yêu cấu. Về bộ máy quản lí, mỗi một bang có hệ thống Toà án, cơ quan đại diện, Thống đốc riêng và có thổ có Hiến pháp và những quy định pháp luật khác nhau. Ngược lại, ở Việt Nam, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không thể có những quy định khác nhau về cùng một vấn dề, không có hệ thống cơ quan nhà nước riêng, độc lập với bộ máy nhà nước. Đây chính là hai mô hình khác nhau về tổ chức quyển lực nhà nước theo cấu trúc lãnh thổ.

Ở một số nhà nước, việc quyết định những vấn để nhất dinh được thực hiện bằng cách hỏi ý kiến nhân dân và hình thức cao hơn, để nhân dân bỏ phiếu trực tiếp quyết định và nhà nước phải thực hiện các quyết định đó.

Ví dụ: Ở một số nước trong Liên minh châu Âu, việc quyết định tham gia đồng tiền chung châu Âu thông qua Hiến pháp chung của châu Âu là do cử tri bỏ phiếu quyết định. Ở Việt Nam, quy chế dân chủ cơ sở và khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là những biểu hiện của cách thức thực hiện quyền lực mang tính dân chủ.

Có một số nhà nước, việc quyết định những vấn để quan trọng do một nhóm hoặc một cá nhân toàn quyển quyết định, loại trừ sự tham gia của nhân dân vào các công việc này. Nói cách khác, dây là sự cai trị chuyên chế độc tài (ví dụ: những nhà nước phát xít). Toàn quyên quyết định và loại trừ sự tham gia của nhân dân hay tôn trọng và tổ chức cho nhân dân tham gia vào công việc nhà nước là hai cách thức, phương thức thực hiện quyển lực nhà nước khác nhau, đổi lập nhau.

1.2 Hình thức chính thể

Khái niệm chính thể

Tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước ở trung ương hay còn gọi là hình thức chính thể có ba nội dung cơ bản:
(i) Cách thức, trình tự tổ chức quyển lực nhà nước trung ương;
(ii) Mổi quan hệ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương;
(iii) Sự tham gia của nhân dân vào việc tổ chức quyền lực nhà nước ở trung ương.

Nói một cách đơn giản, nó trả lời ba câu hỏi:
(i) Quyền lực nhà nước trung ương được hình thành như thế nào?
(ii) Các cơ quan có quyền lực đó quan hệ với nhau ra sao?
(iii) Nhân dân tham có thể tham gia và tham gia như thố nào vào việc hình thành các cơ quan này?

Thứ nhất: Cách thức, trình tự tổ chức quyển lực nhà nước trung ương Thông thường, quyền lực nhà nước ở trung ương được tổ chức thành ba loại: quyền lập pháp, quyển hành pháp và quyển tư pháp dựa trên cách thức phân loại chức năng nhà nước ở Chương I của giáo trình này. Quyền lập pháp (xây dựng luật) thường được thực hiện bởi cơ quan đại diện cho toàn thể cử tri. Cơ quan đó được gọi là Quốc hội hay Nghị viện. Quyển thi hành pháp luật do cơ quan đại diện ban hành thường được gọi là quyển hành pháp và cơ quan thực hiện quyền này có tên gọi phổ biến là Chính phủ. Quyền bảo vộ pháp luật thường được gọi là quyển tư pháp và cơ quan thực hiện quyền này thường là Toà án.

  • Về cách thức thành lập, có những cách cơ bản như sau:

Bầu và bẩu cử là việc nhiều người hoặc toàn dân lựa chọn và trao quyển cho một hoặc một số người giữ những chức vụ nhất định trong bộ máy nhà nước.

Ví dụ: Nhân dân bầu các dại biểu Quốc hội ở Việt Nam, báu Tổng thống ở Mĩ.

Bổ nhiệm là việc chọn một hoặc một số người giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước.

Ví dụ: Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam bổ nhiệm Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của chính phủ; Nữ hoàng Anh bổ nhiệm Thủ tướng.

Thế tập là việc được thừa hưởng tước vị, chức vụ do có cùng dòng tộc với nhà vua.

Ví dụ: Elizabeth II kế vị vua George VI vào năm 1952, Bhumibol Adulyadej của Thái Lan kế vị ngai vàng sau khi anh của ông - vua Ananda Mahidol - mát năm 1946.

  • Về trình tự thiết lập các cơ quan quyển lực nhà nước:

Trình tự thiết lập cơ quan quyển lực nhà nước ở trung ương là nói đến các bước, các giai đoạn của quá trình thiết lập các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương. Có hai loại trình tự phổ biến trong thực tiễn:

Loại thứ nhất, viộc thiết lập các cơ quan quyền lực theo thứ tự trước sau và thành công trong việc thiết lập cơ quan trước mới có thể thiết lập được cơ quan sau.

Ví dụ: Ở Việt Nam, Quốc hội được bầu ra trước. Sau đó, Quốc hội quyết định thành lập ra chính phủ. Cơ cấu, số lượng thành viên của Chính phủ do Quốc hội quy định.

Loại thứ hai, việc thiết lập các cơ quan quyển lực nhà nước ở trung ương độc lập với nhau, viộc thiết lập cơ quan này không ảnh hưởng tới việc thiết lập cơ quan khác.

Ví dụ: Ở Mĩ, việc bầu Tổng thống không phụ thuộc vào việc bầu Quốc hội và ngược lại.

Thứ hai: Mối quan hệ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương Theo nội dung và vị trí của các chủ thể, quan hệ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương có thể chia thành hai loại cơ bản.

  • Loại thứ nhất, quan hệ giữa các chủ thể ngang bằng về vị trí và do vậy nội dung quan hệ giữa chúng mang tính chất kiềm chế, đối trọng, giám sát lẫn nhau.

Ví dụ: Quan hệ giữa Tổng thống Mĩ và Quốc hội Mĩ là quan hệ giữa hai chủ thể cùng do dân bầu ra, địa vị ngang nhau. Nội dung quan hệ giữa hai chủ thể này là kiềm chế, đối trọng và kiểm soát lẫn nhau, không phụ thuộc vào nhau.

  • Loại thứ hai, quan hệ giữa các chủ thể không ngang nhau về vị trí và do vậy nội dung quan hệ giữa chúng mang tính chất thứ bậc, trên dưới, nhấn mạnh sự thống nhất về quyền lực.

Ví dụ: Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyển lực nhà nước cao nhất, có quyển thành lập và bất tín nhiệm chính phủ, Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Đây là mối quan hệ trên dưới, chấp hành, theo đó Chính phủ phải phụ thuộc vào Quốc hội.

Thứ ba: Sự tham gia của nhân dân vào việc tổ chức quyền lực nhà nước ở trung ương

Sự tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan nhà nước bằng bầu cử và cách thức xác định kết quả củng rất khác nhau.

Ví dụ: Ở Liên bang Nga, nhân dân trực tiếp bẩu Quốc hội, bầu Tổng thống Liên bang; còn ở CHLB Đức, nhân dân chỉ bầu Quốc hội nhưng không bầu Tổng thống.

Ở Mĩ, cử tri có thể bầu nhiểu lần hơn so với ở CHLB Đức hoặc Vương quốc Anh. Chế độ bầu cử theo đa sổ có nghĩa là ứng cử viên có số phiếu bầu cao nhất là thắng cử trong khi chế độ bấu cử theo tỉ lệ đại diện xác định tháng cử phụ thuộc vào tỉ lệ số phiếu mà họ có được.

Như vậy, cách thức, số lượng tham gia của nhân dân vào việc tổ chức bộ máy nhà nước thông qua bầu cử là một nội dung của khái niệm chính thể.

Hình thành nên các cơ quan nhà nước như thế nào, những cơ quan này vận hành ra sao và cách thức thực hiện quyền lực trong mối quan hộ với nhân dân (hình thức chính thể) là những nội dung đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội.

Phân loại chính thể

Cách phân loại hình thức chính thể phổ biến hiện nay dựa trên nguồn gốc quyền lực nhà nước và sự tham gia của nhân dân vào quyền lực nhà nước.

Theo cách này, chính thể chia thành hình thức chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà. Quân chủ là hình thức chính thể trong đó quyền lực tối cao của Nhà nước dược tập trung toàn bộ (hay một phẩn) trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc thừa kế. Cộng hoà là hình thức theo đó quyển lực tối cao của Nhà nước thuộc về một cơ quan được bầu ra trong một thời gian nhất định.

Ví dụ: Việt Nam là chính thể cộng hoà xã hội chủ nghĩa, Thái Lan là chính thể quân chủ.

Chính thể quân chủ được chia thành hai loại là quân chủ tuyệt đối (nhà vua nắm quyền lực vô hạn) và quân chủ hạn chế (nắm một phán quyền lực). Quân chủ hạn chế có thể chia làm hai loại: quân chủ đại nghị (nhà vua bị hạn chế bởi Nghị viện) và quân chủ lập hiến (nhà vua bị hạn chế bởi Hiến pháp).

Ví dụ: Nhà nước trong các triều đại phong kiến ở Việt Nam là quân chủ tuyệt đối, Vương quốc Anh là quân chủ đại nghị, Nhật Bản là quân chủ lập hiến.

Cách phân loại hình thức chính thể cộng hoà hiộn đại dựa trên vị trí, vai trò và mối quan hộ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương chia thành ba loại cơ bản: cộng hoà tổng thống; cộng hoà đại nghị và cộng hoà lưỡng hệ.

Cộng hoà tổng thống có những đặc tính:

(i) Người đứng đầu hành pháp là nguyên thủ quốc gia và được bầu phổ thông;
(ii) Nhiệm kì của lập pháp và người đứng đáu hành pháp là xác định và không phụ thuộc vào sự tín nhiệm của nhau;
(iii) Tổng thống thiết lập, điều hành Chính phủ;
(iv) Thành viên của Chính phủ khỏng dồng thời là thành viên của lập pháp.

Ví dụ: Hợp chúng quốc Hoa Kì (Mĩ) là chế độ cộng hoà tổng thống. Theo đó, Tổng thống được bầu phổ thông với nhiẹm kì 04 năm. Tổng thống Mĩ không chịu trách nhiộm trước Quốc hội và không bị Quốc hội giải tán. Tổng thống Mĩ thành lập Chính phủ và các bộ trưởng không là thành viên của Quốc hội Mĩ.

Cộng hoà đại nghị có các đặc tính:

(i) Người đứng đầu hành pháp, bao gồm cả Thủ tướng và Nội các, hình thành từ Nghị viện và là thành viên của Nghị viện;
(ii) Hành pháp có thổ bị giải tán bởi đa số trong Nghị viện, thông qua thủ tục bỏ phiếu bất tín nhiệm;
(iii) Vị trí nguyên thủ quốc gia và người đứng đẩu hành pháp là tách biệt;
(iv) Lãnh đạo hành pháp mang tính tập the trong đó Thủ tướng là người đứng đầu.

Ví dụ: CHLB Đức, Cộng hoà italia là chính thể cộng hoà đại nghị. Chính phủ hình thành từ Nghị viện, chịu trách nhiệm trước Nghị viện và có thể bị Nghị viện giải tán, nguyên thủ quốc gia là Tổng thống tách biệt với Thủ tướng - người đứng đầu cơ quan hành pháp.

Cộng hoà lưỡng hệ có các đặc tính:
(i) Tổng thống được bầu phổ thông;
(ii) Tổng thống có quyền hiến định rất lớn, là người đứng đầu hành pháp và nguyên thủ quốc gia;
(iii) Thủ tướng và các bộ trưởng nắm quyển hành pháp và chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Thực chát, chế độ này kết hợp những đặc tính của hai chế độ trên. Những nước theo hình thức cộng hoà lưỡng hệ tiêu biểu: CHLB Nga, Cộng hoà Pháp.

Ví dụ: Tổng thống CHLB Nga do dân bầu, có quyền rất lớn và là nguyên thủ quốc gia, đứng đầu hành pháp. Thủ tướng Dmitry Mcdvedev nắm quyển hành pháp chịu trách nhiệm trước Quốc hội.

1.3 Hình thức cấu trúc

  • Khái niệm hình thức cấu trúc

Vì sự khác biột về địa lí, thành phần cư dân, văn hoá, trình dộ phát triển kinh tế... hoặc lịch sử hình thành quốc gia, hầu hết các nhà nước được cấu thành từ những phần lãnh thổ với những bộ máy quản lí tại những bộ phận lãnh thổ đó.

Ví dụ: Lịch sử hình thành Hợp chúng quốc Hoa Kì tạo nên các tiểu bang trong nhà nước liên bang, nhưng với Việt Nam, việc chia toàn bộ quốc gia thành các tỉnh, thành phố và các cấp nhỏ hơn xuất phát từ yếu tố địa lí, văn hoá, cư dân, trình dộ phát triển kinh tế với mục đích quản lí xã hội nhằm phát triển đổng đều và bình đẳng giữa những khu vực, bộ phận khác nhau.

Như vậy, hình thức cấu trúc là việc nhà nước được cấu thành từ những đơn vị hành chính lãnh thổ như tiểu bang, tỉnh, thành phố... hay chia thành các cấp với trật tự thứ bậc như thế nào và các bộ phận lãnh thổ đó quan hệ với nhau ra sao.

Ví dụ: Có nên chia thành các tiểu bang có chủ quyển độc lập hay chia thành các đơn vị hành chính như tỉnh, thành phố không có chủ quyền? Có thể nói, hình thức cấu trúc được hiểu là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và xác lập mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước, giữa trung ương với địa phương.

  • Phân loại hình thức cấu trúc

Nhà nước liên bang

Những nhà nước liên bang điển hình như Hợp chúng quốc Hoa Kì được chia thành 50 tiểu bang với những hộ thống pháp luật, bộ máy nhà nước độc lập với nhau và độc lập với bộ máy nhà nước trung ương. CHLB Đức gổm 16 tiểu bang với những cơ quan nhà nước dộc lập với chính quyển trung ương. Như vậy, nhà nước liên bang dược cấu trúc từ các nhà nước thành vicn (tiổu bang) với sự dộc lập nhất định thể hiện bằng việc có hệ thống pháp luật riêng, bộ máy quản lí riêng.

Các nhà nước tiểu bang có mức độ độc lập với nhà nước liên bang, có chủ quyền.

Nhà nước đơn nhất

Nhà nước dơn nhất là hình thức tổ chức quyển lực nhà nước theo đó chủ quyền tập trung vào chính quyền trung ương, chính quyền địa phương, vùng có thể có thẩm quyền ở những mức độ nhất định nhưng thẩm quyền này do chính quyền trung ương cho phép và vể lí thuyết, chính quyển trung ương có thể giải tán chính quyền vùng và địa phương.

Ví dụ: Các tỉnh, thành phố ở Việt Nam không thể có Hiến pháp riêng, không thể có bộ máy quản lí độc lập mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào bộ máy nhà nước trung ương. Quốc hội có thể tách, nhập các đơn vị hành chính, hình thành, giải tán các đơn vị hành chính mới.

Tóm lại, hình thức nhà nước cấu trúc theo lãnh thổ có hai mô hình cơ bản là nhà nước theo chế độ liến bang và nhà nước đơn nhất. Mỗi một mô hình tổ chức và vận hành quyền lực theo lãnh thổ có những đặc điểm khác nhau nhưng phải tuân thủ những nguyên lí chung là bảo đảm mối quan hệ giữa chủ quyển quốc gia và quyền tự chủ của chính quyển cấp dưới; bảo đảm sự thống nhất và sự khác biệt; bảo đảm yêu cầu hiộu quả trong quản lí.

1.4 Chế độ chính trị

  • Khái niệm chế độ chính trị

Cơ quan nhà nước thực hiộn quyền lực nhà nước như thế nào, có vì nhân dân hay không, quyền lực này có thuộc về nhân dân hay không, có do nhân dân hay không là một trong những nội dung của khái niệm chế độ chính trị.

Chế độ chính trị có thể được hiểu là những cách thức, phương pháp thực hiện quyển lực nhà nước. Nếu như hình thức chính thể và hình thức cấu trúc cho ta biết quyền lực nhà nước được tổ chức theo hình thức nào thì khái niệm chế độ chính trị cho ta biết quyền lực đó được thực hiện như thế nào, theo cách nào.

  • Phân loại chế độ chính trị

Chế độ chính trị được chia thành chế độ dân chủ và phi dân chủ.

Phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước dân chủ được hiểu là cách thức thực hiện quyền lực theo đó có tổ chức cho sự tham gia của nhản dân vào việc tổ chức và thực hiện quyển lực nhà nước.

Ví dụ: Trong lĩnh vực lập pháp, quyền lực lập pháp thuộc về Quốc hội, Quốc hội được thực hiện quyền lập pháp theo nhiều cách khác nhau. Nếu Quốc hội cho nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, đánh giá trong suốt quá trình xây dựng pháp luật, cách thức thực hiện quyển lực lập pháp của Quốc hội thì việc thực hiện quyền lực nhà nước này được coi là có dân chủ hay chế độ chính trị dân chủ.

Phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước phi dân chủ là phương pháp ngăn cản, loại trừ sự tham gia của nhân dân vào bộ máy nhà nước và đời sống chính trị. Quyền lực nhà nước được thực hiện một cách chuyên chế và độc đoán.

Ví dụ: Trong quá trình thực hiện pháp luật, cơ quan hành pháp không lẳng nghe ý kiến của nhân dân, không cho nhân dân tham gia góp ý, không tạo điếu kiện cho nhân dân giám sát và thực hiện quyền lực này một cách tuỳ tiện, theo ý chí của người có quyền thì được coi là thực hiện quyền lực không dân chủ.

2. Bộ máy nhà nước

2.1 Khái niệm bộ máy nhà nước

Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống địa phương được tổ chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành cơ chế đồng bộ để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước.

Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống địa phương.

Ví dụ: Bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam ở trung ương gồm có Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viộn Kiểm sát nhân dân tối cao; ở dịa phương có Hội đổng nhân dân (HĐND) và ƯBND các cấp.

Bộ máy nhà nước được tổ chức theo những nguyên tắc nhất định nhằm bảo đảm cho sự vận hành của bộ máy nhà nước thống nhất, đổng bộ và có hiệu quả. Có thể nói, các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước chính là cơ sở kiến trúc nên toàn bộ máy nhà nước, tạo ra sự khác biệt giữa bộ máy nhà nước này với bộ máy nhà nước khác.

Ví dụ: Bộ máy nhà nước tư sản tổ chức theo nguyên tắc phân quyền.

Theo đó, Nghị viện nắm quyền lập pháp, Chính phủ nắm quyển hành pháp và Toà án có quyền tư pháp. Các cơ quan này vừa thực hiện quyền năng của mình vừa kiểm soát các nhánh quyến lực khác. Trong khi đó, bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, quyển lực nhà nước tập trung vào cơ quan đại diện cao nhất.

Ví dụ: Ở Việt Nam, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có quyền tổ chức ra các cơ quan nhà nước khác ở trung ương và có quyền giám sát tối cao.

Mỗi cơ quan nhà nước đểu có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn riêng nhưng khi các cơ quan nhà nước thực hiộn chức năng riêng của mình là nhằm góp phần thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

Ví dụ: Cơ quan điều tra thực hiện chức năng điểu tra, cơ quan Viện Kiềm sát thực hiện chức năng công tổ, Toà án thực hiện chức năng xét xử.

Điều này có nghĩa ba cơ quan này đang góp phần thực hiện chức náng của Nhà nước là chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, quyển và lợi ích hợp pháp của công dân. Như vậy, vai trò của bộ máy nhà nước là nhằm để thực hiện các chức năng, nhiộm vụ của Nhà nước.

Ví dụ: Để nhà nước thực hiện được chức năng trấn áp thì phải tổ chức ra các cơ quan như: quân đội, nhà tù, cảnh sát; để nhà nước quản lí giáo dục, y tế thì phải tổ chức các cơ quan như Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo...

2.2 Cơ quan nhà nước - bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước

Mặc dù các cơ quan nhà nước khác nhau có vị trí, tính chất, chức năng và thẩm quyền khác nhau. Tuy nhiên, tất cả các cơ quan nhà nước đều có các đặc điểm chung giống nhau và nhờ đó có thể phân biệt cơ quan nhà nước với các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị và các tổ chức khác trong xã hội. Cơ quan nhà nước có một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, cơ quan nhà nước là tổ chức không trực tiếp sản xuẩt ra của cải vật chất. Có thể nói rằng, các cơ quan nhà nước là những tổ chức chuyên làm nhiệm vụ quản lí xã hội và không trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế như các doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội. Mặc dù giống với các tổ chức khác là cơ quan nhà nước cũng thực hiện sự quản lí đối với con người nhưng cơ quan nhà nước không trực tiếp sản xuát ra của cải phục vụ cho con người như lúa gạo, quần áo... Tuy nhiên, thông qua các hoạt dộng của mình, các cơ quan nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức khác tham gia vào quá trình sản xuất.

Ví dụ: Bộ Công Thương có vai trò quan trọng trong việc quản lí đối với ngành công nghiệp và thương mại của nước ta nhằm tạo điểu kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện các hoạt dộng sản xuất, kinh doanh của mình.

Thứ hai, cơ quan nhà nước có quyền nhân danh nhà nước đổ thực hiện quyền lực nhà nước. Các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống địa phương đều đại diện cho nhà nước thực hiộn quyển lực nhà nước. Tính quyền lực nhà nước của cơ quan nhà nước thể hiện ở chỗ, các quyết định của cơ quan nhà nước được ban hành trên cơ sở ý chí đơn phương của mình và có tính chất bắt buộc đối với các đối tượng có liên quan.

Ví dụ: Bản án hình sự của Toà án có tính bắt buộc đối với người bị kết án, hay quyết dịnh xử phạt hành chính của cơ quan hành chính nhà nước có tính bắt buộc dối với chủ thể vi phạm hành chính.

Các quyết định của cơ quan nhà nước được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước. Dĩ nhicn, không phải thực hiộn mọi quyết định của cơ quan nhà nước đều cán đến cưỡng chế nhà nước mà trước hết các quyết định này được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của đối tượng. Mặc dù các quyết định này thể hiện ý chí đơn phương của các cơ quan nhà nước nhưng không có nghĩa là xuất phát từ ý chí chủ quan, tuỳ tiện của các cơ quan nhà nước mà phải dựa trên cơ sở pháp luật, phù hợp với đạo đức xã hội.

Thứ ba, cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động của mình trong phạm vi thẩm quyền của mình trên cơ sở pháp luật quy định. Mặc dù tất cả các cơ quan nhà nước đêu có quyền lực nhà nước nhưng mỏi cơ quan có được quyển lực nhà nước trong một giới hạn nhát định và giới hạn đó được gọi là thẩm quyền. Mỗi cơ quan nhà nước đều có thẩm quyền riêng của mình, các cơ quan nhà nước khác nhau sẽ có thẩm quyền khác nhau.

Ví dụ: Thẩm quyền của cơ quan cảnh sát giao thông khác với cơ quan thuế và cơ quan quản lí thị trường. Cảnh sát giao thông không có quyển xử phạt đối với những người có hành vi sai phạm như trốn thuế hoặc bán hàng kém chất lượng. Thẩm quyển của cơ quan nhà nước được xác định thông qua các quy định trong các văn bản pháp luật. Trong các yếu tố của thẩm quyển cơ quan nhà nước thì quan trọng nhất là quyền ban hành quyết định pháp luật. Các cơ quan nhà nước chỉ hoạt dộng trong phạm vi thẩm quyền của mình, trong phạm vi đó, các cơ quan nhà nước hoạt động một cách độc lập, chủ động và sáng tạo. Việc thực hiện thẩm quyển đối với các cơ quan nhà nước vừa là quyền, nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ, không phụ thuộc vào ý muốn, sự xct đoán riêng của bản thân các cơ quan hay bất kì người lãnh đạo nào1.

Tóm lại, có thể hiểu ràng, cơ quan nhà nước là một tổ chức mang quyền lực nhà nước, được thành lập trên cơ sở pháp luật và được giao những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong phạm vi luật định.

2.3 Các thiết chế cơ bản trong bộ máy nhà nước của các quốc gia trên thế giới ngày nay

  • Nguyên thủ quốc gia

Ở hầu hết các quốc gia, hiến pháp quy định nguyên thủ quốc gia là người đứng đấu nhà nước, có quyển thay mặt nhà nước về mặt đối nội và đối ngoại. Về nguyên tắc, nguyên thủ quốc gia là đại diện tượng trưng cho sự bẽn vững và tập trung của Nhà nước. Nguyên thủ quốc gia ở các quốc gia khác nhau có thể có tên gọi khác nhau như Tổng thống, Chủ tịch nước, Quốc vương... Thông thường, nguyên thủ quốc gia là một cá nhân đứng đẩu nhà nước. Tuy nhicn, ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây có thời kì nguyền thủ quốc gia là một tập thể.

Ví dụ: Đoàn chủ tịch Xô viết tối cao là nguyên thủ theo quy định của Hiến pháp Liên bang Xô viết năm 1977, hoặc thiết chế Hội đồng Nhà nước củng là nguyên thủ theo quy định Hiến pháp năm 1980 của Việt Nam. Mức độ thực quyền của nguyên thủ quốc gia phụ thuộc vào mô hình chính thể của Nhà nước.

Nhìn chung, thẩm quyển của nguyên thủ quốc gia được thể hiện trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp và đối ngoại. Về hành pháp, nguyên thủ quốc gia thể hiện có quyền bổ nhiệm các quan chức cấp cao của hành pháp. Nguyên thủ là người đứng đầu nhà nước nên cũng được giao quyền thong lĩnh lực lượng vũ trang. Về đối ngoại, nguyên thủ quốc gia có quyền thay mặt cho nhà nước, có quyển bổ nhiệm các đại sứ, các đại diện ngoại giao; triệu hổi các đại sứ; tiếp nhận uỷ nhiệm thư các đại diện ngoại giao nước ngoài; quyết định phong hàm cấp ngoại giao. Về lập pháp, thông thường nguyên thủ quốc gia có quyền công bố các dạo luật và phủ quyết lập pháp. Nguyên thủ quốc gia thực hiộn quyền này là nhằm kiểm soát quycn lập pháp của Nghị viện. Về tư pháp, nguycn thủ quốc gia có quyền bổ nhiệm các thẩm phán Toà án cấp cao, tổng công tố, người đứng đầu ngành tư pháp. Nguyên thủ quốc gia cũng có quyền ân xá và đặc xá.

  • Nghị viện

Ở các nhà nước tư sản ngày nay, quyển lập pháp được trao cho Nghị viện nên Nghị viện còn được gọi là cơ quan lập pháp. Tuy nhiên, ngoài chức năng lập pháp, Nghị viện còn thực hiện các chức năng quan trọng khác như giám sát Chính phủ, chức năng tài chính (quyết định các vấn đế về ngân sách nhà nước), chức năng đại diện (đại diện cho nhân dân cả nước, có trách nhiệm bảo vệ lợi ích của toàn dân, kể cả những nhóm người thuộc vể thiểu số...). Do đó, có thể nói, Nghị viện chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước, vì thiếu nó hai nhánh quyền lực kia không thể hoạt động được.

Có thể khái quát thẩm quyền của Nghị viện trong những lĩnh vực cơ bản như sau: Về lập pháp, Nghị viện là cơ quan có quyền thảo luận và thông qua các dự luật. Quyển này được xem là quyển quan trọng nhất của quy trình lập pháp; về tài chính, Nghị viện có quyền phê chuẩn sử dụng ngân sách, phân bổ ngân sách, quyết toán ngân sách. Các quyển này được xem là những quyển khá quan trọng của Nghị viện trong việc kiểm soát chi tiêu của Chính phủ và thông qua đó, Nghị viện có thể kiềm chế, giám sát bộ máy hành pháp; vể quốc phòng an ninh và đối ngoại, Nghị viện có quyển quyết định chiến tranh hay hoà bình, có quyền ban hành luật hay phê chuẩn ban bố tình trạng khẩn cấp hay thiết quân luật; Về đối ngoại, Nghị viện có quyển phê chuẩn các hiệp ước giữa Chính phù với Chính phủ của các nước khác hay tổ chức quốc tế; Về hành pháp, các nước có chính thể đại nghị thì Nghị viện có quyền hạn rộng lớn như thành lập chính phủ, giám sát Chính phủ, có quyền bất tín nhiệm đối với Chính phủ. Ngược lại, các nước có chính thể cộng hoà tổng thống và cộng hoà hổn hợp, quyển can thiệp của Nghị viện đối với hành pháp có phần hạn chế và chủ yếu có quyền kiểm soát chính phủ ; Về tư pháp, một số quốc gia quy định Nghị viện có quyến luận tội các quan chức cấp cao của hành pháp, kể cả nguyên thủ quốc gia. Thủ tục này còn gọi là thủ tục đàn hạch và được quy định hết sức chặt chẽ nhằm tránh việc sử dụng tuỳ tiện gây mất ổn định chính trị của quốc gia.

  • Chính phủ

Ở các quốc gia ngày nay, thông thường Chính phủ được gọi là cơ quan hành pháp. Vì vậy, theo nghĩa đơn giản nhất, Chính phủ là cơ quan thi hành pháp luật. Vì thế, chức năng chủ yếu của Chính phủ là quản lí xã hội trôn cơ sở luật của Nghị viện. Tuy nhiên, khi thực hiện hoạt động quản lí của mình, Chính phủ có thổ ban hành các văn bản pháp luật gọi là hoạt động lập quy. Bên cạnh đó, thông thường Chính phủ cũng được trao quyền thi hành các phán quyết của Toà án. Trên thực tế, dù ở bất kì chính thể nào thì Chính phủ vẫn là thiết chế có vị trí trung tâm trong bộ máy nhà nước, có quyền hạn rất lớn và có thể lấn át các thiết chế quyền lực khác như Nghị viện, Toà án. Vì vậy, mục tiêu tham gia bầu cử của các đảng chính trị ở các nước tư sản chủ yếu là nhằm nắm quyển kiểm soát chính phủ.

Nhìn chung, thẩm quyền của Chính phủ thể hiện trong các lĩnh vực sau: Vể hoạch định chính sách, Chính phủ có thẩm quyển khởi xướng và hoạch định các chính sách đối ngoại và đối nội của Nhà nước. Thực chất, thẩm quyển này nhằm giúp Chính phủ hạn chế quyển lực của lập pháp; về quản lí nhà nước, Chính phủ là cơ quan có thẩm quyền quản lí cao nhất của Nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội... Đây chính là thẩm quyền quan trọng và thường xuyên của Chính phủ; về quốc phòng, an ninh, Chính phủ vừa là cơ quan có quyền soạn thảo các chính sách liên quan đến quốc phòng, an ninh và đối ngoại, vừa là cơ quan có quyền chỉ đạo thực hiện các chính sách này; về ngoại giao, Chính phủ có quyền đệ trình hoặc tự mình đàm phán kí kết các hiệp ước quốc tế. Ngoài ra, Chính phủ cũng có quyền đệ trình nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm các đại sứ, đại diện ngoại giao tại nước ngoài; Vê lập pháp và lập quy, Chính phủ có quyền trình các dự án luật tới Nghị viện, có quyển đề nghị nguyên thủ phủ quyết các dự luật của Nghị viện và có quyền ban hành văn bản pháp quy để cụ thể hoá các quy định của luật hoặc đổ bổ khuyết cho sự thiếu hụt của luật được áp dụng vào cuộc sống; Về tư pháp, Chính phủ có quyền độ trình nguyên thủ quốc gia hay Nghị viện bổ nhiệm thẩm phán. Phần lớn chính phủ của các nhà nước tư sản nằm giữ quyền thi hành án.

  • Toà án

Ngày nay, hiến pháp của các nước đều quy định Toà án có chức năng xét xử (nắm giữ quyền tư pháp) nhằm đảm bảo quyển tự do, công bằng của công dân. So với các thiết chế quyền lực khác, Toà án thực hiện chức năng xét xử dựa trôn cơ sở quy định của pháp luật và dược xem là cơ quan có vai trò bảo vệ công lí cho xã hội. Do đó, yêu cầu quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của cơ quan này là phải đảm bảo sự độc lập. Vì vậy, hầu hết các nước đểu ghi nhận nguyên tắc toà án xét xử độc lập tuân theo pháp luật trong hiến pháp của mình. Để bảo đảm cho thẩm phán độc lập khi thực hiện nhiệm vụ của mình, pháp luật các nước tư sản thường đưa ra các quy định mang tính nguyên tắc như: Thẩm phán không thể là người thuộc các tổ chức chính trị (các đảng phái chính trị), tổ chức kinh tế hay thuộc bất kì cơ quan nhà nước nào khác; Thẩm phán thường có nhiệm kì lâu dài hoặc suốt đời; Thẩm phán được bổ nhiệm chứ không bầu cử; Thẩm phán được hưởng thu nhập cao. Theo xu hướng chung, vai trò của Toà án ngày càng được tăng cường nhằm mục tiêu xây dựng pháp quyển mà cụ thể hơn là bảo đảm các quyền con người.