Bài 2: Phân tích trong nhất thời


Làm thế nào để phân phối lượng cung trong nhất thời cho người tiêu thụ và phân phối lượng cung nhất định qua các giai đoạn? Để giải quyết vấn đề trên, mời các bạn cùng tham khảo nội dung bài giảng Bài 2: Phân tích trong nhất thời dưới đây.

Tóm tắt lý thuyết

Nhất thời là khoảng thời gian rất ngắn nên lương· cung ứng sản phẩm không thể thay đổi. Phân tích trong nhất thời nhằm giải thích việc định giá và số lượng trong những trường hợp theo đó những số lượng sản phẩm đà có sẵn. Hai vấn đề căn bản trong nhất thời cần giải quyết là:

  • Những lượng cung sẵn có của các hàng hóa được phân phối như thế nào cho những người tiêu thụ.
  • Những lượng cung sẵn có được tung ra theo những tỷ lệ nào qua các giai đoạn trong nhất thời.

1. Phân phối lượng cung trong nhất thời cho người tiêu thụ

Giá cả là cơ chế phân phối lượng cung cố định cho những người tiêu thụ cần đến chúng. Giả sử khoảng thời gian mà lượng cung cố định là một ngày và chúng ta vẽ đường cầu của một sản phẩm như trong hình 5.4.

Trên đồ thị đường cung song song với trục tung vì lượng cung cố định hàng ngày. Mức giá sè làm cho thị trường cân bằng, bất cứ người nào chấp nhận mức giá P0 sẽ mua được sản phẩm đó với bất cứ số lượng nào mong muốn. Ở dưới mức giá P0, tình trạng thiếu hụt hàng hóa sẽ xảy ra và những người tiêu thụ sẽ đẩy giá trở lên. Ngược lại ở phía trên mức giá P0, sẽ xảy ra tình trạng dư thừa và những người bán sẽ cạnh tranh hạ giá xuống để bán lượng hàng thừa đó đó. Ở tại mức giá P0, những người tiêu thụ sẽ tự giới hạn tiêu thụ trong lượng cung cố định Q0.

2. Phân phối lượng cung nhất định qua các giai đoạn

Giả sử khoảng thời gian nhất thời là 1 năm, mỗi đường cầu chỉ áp dụng cho giai đoạn 4 tháng và giả sử những đường cầu như nhau qua 3 giai đoạn. Giả sử những người bán dự đoán đúng nhu cầu thị trường cho mỗi giai đoạn 4 tháng và quyết định bán hay không tùy theo tình hình thị trường.

Trong giai đoạn 4 tháng thứ nhất đường cung không song song với trục tung, bởi vì họ có thể chọn lựa bán trong những giai đoạn nào có lợi nhất. Giá càng cao trong giai đoạn này thì họ sẽ tung hàng hóa ra nhiều. Cho nên đường cung là một đường dốc lên trên S1. Mức giá trên thị trường là P1 với số lượng bán là Q1.

Trong giai đoạn 4 tháng thứ hai, đường cung S2 nằm phía bên trên S1 ngoại trừ ở mức giá thấp. Mức giá P2 phải lớn hơn P1 để bù đắp vào chi phí dự trữ, bảo quản, hao hụt và có mức lời thông thường về đầu tư số hàng hóa được giữ lại cho giai đoạn hai. Còn ở mức giá thấp, những cơ hội về bán hàng hóa bị thu hẹp, cho nên họ sẽ tung hàng hóa ra nhiều hơn sơ với trong giai đoạn một. Đường cung S2 ít co giãn hơn S1 bởi vì lúc này chỉ còn có hai giai đoạn.

Trong giai đoạn 4 tháng thứ ba, đường cung S3 nằm trên S2 và hoàn toàn không co giãn. Mức giá thị trường sẽ là P3 với số lượng bán là Q3.

Trong trường hợp người bán dự đoán đúng số cầu ở mỗi giai đoạn, thì mức giá ở mỗi giai đoạn từ từ cao hơn. Còn nếu dự đoán sai, thì mức giá hàng hóa ở giai đoạn sau sẽ thấp hơn mức giá ở giai đoạn trước.

Như vậy, ngay khi một hàng hóa được tung ra thị trường với số lượng cố định, chi phí sản xuất không đóng vai trò nào trong việc ấn định giá bán. Giá của hàng hóa trên thị trường được quyết định bởi lượng cung cố định tương ứng với số cầu sản phẩm.