Bài 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tài chính


Mời các bạn cùng tham khảo nội dung bài giảng Bài 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tài chính sau đây để tìm hiểu về các tiền đề thúc đẩy sự ra đời và phát triển của Tài chính, khái niệm và bản chất Tài chính, chức năng của Tài chính, vai trò của Tài chính trong nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế ở Việt Nam.

Tóm tắt lý thuyết

1. Các tiền đề thúc đẩy sự ra đời và phát triển của Tài chính

Tiền đề khách quan của sự ra đời và phát triển của Tài chính là: Sự ra đời của sản xuất hàng hóa tiền tệ

  • Kinh tế chính trị học Mác - Lênin đã chỉ rõ: Quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội gồm bốn khâu: Sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Tài chính thuộc về phạm trù phân phối, các quan hệ phân phối được thực hiện dưới hình thức giá trị. Như mọi phạm trù kinh tế khách quan khác, Tài chính có lịch sử phát sinh, phát triển của nó.
  • Nhìn lại toàn bộ lịch sử phát sinh, phát triển của Tài chính có thế nhận thấy, Tài chính ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tế hàng hóa phát triển nhất định, các mối quan hệ dưới hình thức tiền tệ cũng ngày càng phát triển, vì vậy có thế coi rằng sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa, tiền tệ là tiền đề khách quan quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của Tài chính. Ngược lại chính sự ra đời và phát triển của Tài chính lại thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa - tiền tệ phát triển mạnh hơn, đây chính là sự tác động qua lại giữa hai phạm trù này, từ đó có thế coi.
  • Chính sự ra đời của hàng hóa và tiền tệ đã là tiền đề khách quan cho sự ra đời của Tài chính.

Tiền đề chủ quan của sự ra đời và phát triển của Tài chính là: Nhà nước

  • Lịch sử phát triển của xã hội loài người cũng đã chứng minh rằng, khi phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, chế độ tư hữu xuất hiện thì xã hội bắt đầu phân chia thành các giai cấp, và có sự đối kháng về quyền lợi giừa các giai cấp khác nhau trong xã hội.
  • Sản xuất hàng hóa, tiền tệ phát triển thúc đẩy mạnh mẽ sự phân chia giai cấp và đối kháng giai cấp. Trong điều kiện lịch sử đó, Nhà nước đã xuất hiện. Để duy trì bộ máy thống trị, Nhà nước buộc phải tạo cơ sở vật chất cần thiết, nguồn tạo ra cơ sở vật chất đó chủ yếu được thực hiện bằng việc phản phối một phần giá trị sản phẩm xã hội sáng tạo ra.
  • Nhà nước với tư cách là chủ thể có quyền lực chính trị đã nắm lấy việc đúc tiền, in tiền và lưu thông tiền tệ, tác động đến sự vận động độc lập của đồng tiền trên phương diện quy định hiệu lực pháp lý của đồng tiền, và tạo ra môi trường pháp lý cho việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ phục vụ cho hoạt động của nhà nước.
  • Thông qua các thứ thuế bằng tiền và công trái, Nhà nước đã tập trung một bộ phận sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân dưới hình thức giá trị đề lập ra các quỹ tiền tệ riêng có - quỹ Ngân sách nhà nước và các quỳ Tài chính nhà nước khác, phục vụ cho hoạt động của Nhà nước và thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội. Từ đó có thế coi Nhà nước là tiền đề chủ quan của sự ra đời và phát triển của Tài chính.
  • Với các chủ thể khác như các doanh nghiệp, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức xã hội, các hộ gia đình, các quỹ tiền tệ được hình thành và sử dụng cho những mục đích trực tiếp (sản xuất hoặc tiêu dùng) thông qua hành vi trao đổi thành những quỹ vật tư, hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho sản xuất hay tiêu dùng, sinh hoạt; cũng có thế được hình thành thông qua những tụ điểm để thu hút tiền từ những chủ thể thừa vốn sang những chủ thế thiếu vốn, cho những mục tiêu của các chủ thể đó.
  • Từ những phân tích nêu trên có thể rút ra nhận xét, trong những điều kiện lịch sử nhất định, Tài chính đã xuất hiện và tồn tại với sự xuất hiện và tồn tại của sản xuất hàng hóa - tiền tệ và Nhà nước.
  • Như vậy có thể coi kinh tế hàng hóa - tiền tệ và Nhà nước là những yếu tố tiền đề quyết định sự ra đời và tồn tại của Tài chính, trong đó kinh tế hàng hỏa - tiền tệ là tiền đề khách quan, còn nhà nước là tiền đề chủ quan về sự phát sinh và phát triển của phạm trù Tài chính.
  • Kinh tế hàng hóa - tiền tệ càng phát triển và chức năng của nhà nước ngày càng hoàn chỉnh, thì vai trò của Tài chính ngày càng được nâng cao, các quan hệ Tài chính ngày càng đa dạng. Hình thức Tài chính ban đầu là thuế và ngân khố quốc gia, sau đó nhiều hình thức Tài chính mới lần lượt xuất hiện đế tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Nói cách khác, sự phát triển của các quan hệ Tài chính phụ thuộc vào sự phát triển của các quan hệ hàng hóa - tiền tệ trong các mối quan hệ kinh tế của xã hội, và trong vị thế của Nhà nước trong quản lý kinh tế của đất nước trong từng giai đoạn phát triển.
  • Ngược lại trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, thông qua chính sách và cơ chế quản lý kinh tế, Nhà nước trong một đất nước nhất định có lúc có tác động thúc đẩy, có lúc lại có tác động kìm hãm sự phát triển của sản xuất hàng hóa - tiền tệ và do đó thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của Tài chính. Nhưng tổng quát lại, mọi Nhà nước đều luôn tìm cách sử dụng Tài chính làm công cụ tham gia phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, tập trung các nguồn Tài chính vào tay Nhà nước để đảm bảo cho các nhu cầu chi tiễu và hoạt động của Nhà nước.
  • Bước vào Thế kỷ 21, ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện kinh tế hội nhập khu vực và toàn cầu, những tiền đề khách quan và chủ quan và phát triển của Tài chính vẫn đang hiện diện đầy đủ. Vấn đề đặt ra là làm sao có thể sử dụng phạm trù Tài chính đang tồn tại khách quan một cách đúng đắn phục vụ cho công cuộc phát triển xây dựng đất nước. Điều đó trước hết đòi hỏi phải có nhận thức đúng về phạm trù này.

2. Khái niệm và bản chất Tài chính

2.1 Khái niệm

Theo Bách khoa Toàn thư Mở Wikipedia có thể phát biểu khái niệm về Tài chính là:

Là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thề trong nền kỉnh tế nhầm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định.

Phăn biệt Tài chính và một số phạm trù liên quan:

Để hiểu rõ hơn bản chất của Tài chính, ở đây cần có sự phân biệt Tài chính với một số phạm trù kinh tế khác có liên quan.

Thứ nhất: Phân biệt phạm trù Tài chính và phạm trù Tiền tệ.

Nhìn bề ngoài, Tài chính được người ta cảm nhận như những quỹ tiền tệ của các chủ thể khác nhau trong xã hội. Nhưng Tài chính không phải là tiền tệ, tiền tệ về bản chất là vật ngang giá chung trong trao đổi hàng hóa với các chức năng vốn có của nó. Tài chính là sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ trong lĩnh vực phân phối, nhầm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ theo mục đích của các chủ thể.

Thứ hai: Phản biệt phạm trù Tài chính và phạm trù Giá cả.

Giá cả là một phạm trù kinh tế, liên quan đến phân phối dưới hình thức giá trị. Nhưng sự phân phôi của giá cả được tiến hành thông qua sự chênh lệch giữa giá trị và giá cả của hàng hóa trong trao đổi. Tài chính là phạm trù phân phối phản ánh sự chuyển dịch glá trị thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế, vì vậy nó khác với phạm trù giá cả.

Thứ ba: Phân biệt phạm trù Tài chính và phạm trù Tiền lương.

Tiền lương cũng là phạm trù phân phối. Đó là một lượng tiền tệ nhất định được trả cho người lao động, theo những nguyên tắc nhất định. Phạm trù tiền lương không thể đồng nhất với phạm trù Tài chính, vì phạm trù Tài chính là phân phối phản ánh sự chuyển dịch giá trị thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỳ tiền tệ trong nền kinh tế. Tiền lương muốn được thực hiện phải thông qua Tài chính, tức là thông qua quan hệ kinh tế trong phân phối thu nhập dưới hình thức giá trị sau đây:

  • Quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các cơ quan, đơn vị kinh tế, trong điều kiện nhà nước là chủ sử dụng lao động phải trả lương cho người lao động làm việc trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp do nhà nước thành lập
  • Quan hệ kinh tế giữa các tố chức Tài chính trung gian các Doanh nghiệp với người lao động làm việc tại đó.
  • Quan hệ kinh tế giữa các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư với nhau và các quan hệ kinh tê trong nội bộ các chủ thể đó.

2.2 Bản chất của Tài chính

Thông qua việc phân tích sự khác biệt của các phạm trù nêu trên có thể hiểu bản chất của Tài chính là:

Sự vận dộng độc lập tương đối của tiền tệ trong quả trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thế trong nền kinh tế - xã hội.

Như vậy Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực Tài chính thông qua tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể (pháp nhân hay thể nhân) trong xã hội.

3. Chức năng của Tài chính

Theo quan điểm hiện nay thì Tài chính vốn có các chức năng là: chức năng phân phôi của cải xã hội dưới hình thức giá trị (gọi tắt là chức năng phân phối); chức năng giám sát bằng đồng tiền đối với các quá trình phân phối (gọi tắt là chức năng giám sát) và chức năng tạo lập vein.

3.1 Chức năng phân phối

Khái niệm chức năng phân phối của Tài chính theo Bách khoa Toàn thư Mở Wikipedia:

Là chức năng mà nhờ dó, các nguồn tài lực từ những bộ phận của cải xã hội được các chủ thể sử dụng, đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau, để sử dụng cho những mục đích khác nhau, đảm bảo những nhu cầu, những lợi ích khác nhau của chủ thể.

Phân phối của cải xã hội được chia thành ba nhóm:

  • Nhóm thứ nhất: Phân phối hoàn lại có thời hạn. Ví dụ: Cho vay chủ yếu do các tổ chức tín dụng thực hiện.
  • Nhóm thứ hai: Phân phối không hoàn lại. Ví dụ: Phân bố và sử dụng ngân sách nhà nước do các cơ quan Tài chính nhà nước thực hiện.
  • Nhóm thứ ba: Phân phối hoàn lại có điều kiện. Ví dụ: Đóng góp và chi trả bảo hiểm do các tố chức bảo hiểm thực hiện.

Phân phối của Tài chính là khâu nối liền giữa sản xuất với sản xuất, giữa sản xuất với tiêu dùng. Phân phối do sản xuất quyết định. Chức năng phân phối của Tài chính là một khả năng khách quan của phạm trù Tài chính. Con người nhận thức và vận dụng khả nàng khách quan đó đế tố chức việc phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Khi đó Tài chính được sử dụng với tư cách là một công cụ phân phối.

Đối tượng phân phối là của cải xã hội dưới hình thức giá trị xét về mặt nội dung, là tổng thể các nguồn Tài chính có trong xã hội bao gồm các bộ phận:

Bộ phận của cải xã hội mới được sáng tạo ra trong kỳ, đó là tổng sản phẩm trong nước (GDP) được phân phối theo những tỷ lệ và xu hướng nhất định cho tích lũy và tiêu dùng, nhằm tích tụ, tập trung vốn để đầu tư phát triển kinh tế và thỏa mãn các nhu cầu chung của nhà nước, xã hội và dân cư.

Bộ phận của cải xã hội được chuyển từ nước ngoài vào và bộ phận của cải từ trong nước chuyển ra nước ngoài.

Bộ phận tài sản, tài nguyên quốc gia có thể cho thuê, nhượng bán có thời hạn.

Xét về mặt hình thức tồn tại, nguồn Tài chính có thể tồn tại dưới dạng hữu hình hoặc vô hình.

Nguồn Tài chính hữu hình là nguồn Tài chính tồn tại dưới hình thái giá trị và hình thái hiện vật.

  • Dưới hình thái giá trị, nguồn Tài chính có thể tồn tại dưới hình thức tiền của nước đó (nội tệ), tiền lịch sử — vàng và ngoại tệ. Nguồn Tài chính tồn tại dưới dạng tiền tệ đang vận động thực tê trong chu trình tuần hoàn của nền lãnh tế nên được gọi là nguồn Tài chính thực tế. Chính nhờ vào sự vận động của các nguồn Tài chính này mà các quỹ tiền tệ khác nhau có thể được tạo lập, hoặc sử dụng cho các mục đích khác nhau đã được định trước.
  • Dưới hình thái hiện vật, nguồn Tài chính có thể tồn tại dưới dạng bất động sản, tài nguyên, công sản, đất đai... (gọi chung là tài sản). Nguồn Tài chính dưới dạng hiện vật được gọi là nguồn Tài chính tiềm năng bởi vì chúng được coi như có một khả năng Tài chính. Trong điều kiện kinh tế thị trường với sự phát triến mạnh mẽ của các quan hệ hàng hóa - tiền tệ, khả năng chuyển hóa tài sản thành tiền sẽ được thực hiện dễ dàng và nhanh chóng. Khi tài sản thực hiện giá trị, chúng sè biến thành các khối tiền tệ hòa vào các luồng tiền tệ của chu trình tuần hoàn kinh tế, và khi đó nguồn Tài chính tiềm năng chuyển hóa thành nguồn Tài chính thực tế.

Nguồn Tài chính vô hình là nguồn Tài chính tồn tại dưới dạng những sản phẩm không có hình thái vật chất như: phần mềm, dữ liệu, thông tin, hình ảnh, ký hiệu, phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật, thương hiệu... Những sản phẩm kể trên bản thân chúng có giá trị và trong điều kiện kinh tế thị trường, chúng có thể chuyển thành tiền qua mua bán, do đó chúng được coi là một bộ phận cấu thành của tổng thế các nguồn Tài chính trong xã hội.

Quan niệm về tổng nguồn lực Tài chính như trên cho phép hình dung đầy đủ hơn về nguồn Tài chính quốc gia để có thế tìm ra các biện pháp thích hợp nhằm khai thác, huy động, phân phôi, và sử dụng một cách có hiệu quả phục vụ cho sự nghiệp kinh tế - xã hội của đất nước.

Chủ thể phân phối: Là Nhà nước (các tổ chức, cơ quan nhà nước), các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các hộ gia đình hay cá nhân dân cư. Chủ thể phân phối có thể xuất hiện trên một trong các tư cách là:

Chủ thể có quyền sở hữu các nguồn Tài chính. Chủ thể ở đây là những người chủ “đích thực” của vốn tiền tệ. Họ có quyền phân phối và sử dụng chúng theo ý chí chủ quan của mình.

Chủ thể có quyền sử dụng các nguồn Tài chính. Chủ thế ở đây là những người không có quyền sở hữu vốn tiền tệ, nhưng họ được trao quyền sử dụng vốn tiền tệ. Nói cách khác, đó là những người đi vay và họ có quyền phân phôi và sử dụng số vốn vay đó theo các mục đích riêng, nhưng đến thời hạn trả nợ họ phải trả cho người vay tiền gốc và lãi.

Chủ thể có quyền lực chính trị. Chủ thế ở đây như là nhà nước. Nhà nước không phải với tư cách là người có quyền sở hữu hay quyền sử dụng các nguồn Tài chính, nhưng Nhà nước có thể huy động các nguồn Tài chính từ các tố chức và công dân, nhờ nhà nước có quyền lực chính trị thông qua các quy định pháp luật (như thuế, phí, lệ phí...)

Chủ thể có quyền tổ chức mối quan hệ của các nhóm thành viên trong xã hội. Chủ thế muốn đề cập ở đây là các tố chức chính trị, các tổ chức chính trị xã hội, các hội, nghiệp đoàn... Do có sự ràng buộc của các quan hệ xã hội mà các tố chức là người chủ trì, các tổ chức này không phải với tư cách kể trên (quyền sở hừu, quyền sử dụng nguồn Tài chính, quvền lực chính trị) nhưng vẫn xuất hiện với tư cách chủ thể phân phối khi họ nhận được các khoán đóng góp hội phí của các thành viên, các khoản ủng hộ, đóng góp tự nguyện...

Kết quả của phân phối: Là sự hình thành (tạo lập) và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã hội nhằm mục đích đã định.

Đặc điểm của phân phối Tài chính bao gồm:

  • Thứ nhất, phân phối cửa Tài chính là sự phân phối chí diễn ra dưới hình thức giá trị, nó không kèm theo sự thay đổi hình thái giá trị. Nói cách khác, phân phối của Tài chính là sự phân phối dưới hình thức giá trị, nhưng không chứa đựng sự vận động ngược chiều cua hai hình thái giá trị như trong mua bán hàng hóa. Đây là đặc điểm giúp phân biệt Tài chính với một phạm trù phân phối khác là thương mại (cả vật phẩm tiêu dùng và tư liệu sản xuất).

Thông qua chức năng phân phối của Tài chính, các quỳ tiền tệ nhất định được hình thành và sử dụng, nhưng chính trong việc hình thành và sử dụng các quỹ, đặc điểm của Tài chính - phân phôi dưới hình thức giá trị, vẫn không thay đổi. Các quỹ được hình thành, được sử dụng, được khuếch trương, hay được chia nhỏ vì nhừng mục đích nhất định theo tác dụng rộng hơn hay hẹp hơn, nhưng đó vẫn là quá trình phân phối dưới hình thức giá trị.

  • Thứ hai, phân phối của Tài chính là sự phân phối luôn luôn gắn liền với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định. Đây là đặc điểm chủ yếu thể hiện nét đặc trưng cua phân phôi Tài chính.

Giá cả cùng là một phạm trù liên quan đến phân phôi dưới hình thức giá trị, nhưng sự phân phối dưới hình thức giá trị thông qua giá cả được tiến hành thông qua sự chênh lệch của giá cả và giá trị trong trao đổi hàng hóa. Khi trao đổi không ngang giá do giá cả cao hơn hoặc thấp hơn giá trị hàng hóa, giá trị được chuyển từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu khác nhưng gắn liền với hoạt động trao đối, giá cả thường xoay quanh giá trị.

3.2 Chức năng giám sát

  • Chức năng giám sát của Tài chính bắt nguồn từ sự cần thiết khách quan, phải theo dõi kiểm soát tiến trình thực hiện các quan hệ Tài chính, trong phân phối các nguồn Tài chính để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân. Con người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan này của Tài chính để tổ chức công tác kiểm tra Tài chính. Khi đó Tài chính được sử dụng với tư cách là một công cụ kiếm tra, đó là kiếm tra Tài chính.
  • Giám sát là kiểm tra đôi với quá trình thực hiện chức năng phân phối của Tài chính, đối với quá trình phân phối các nguồn Tài chính. Phân phối các nguồn Tài chính là phân phối của cái xâ hội dưới hình thức giá trị, do đó giám sát - kiểm tra Tài chính là giám sát kiểm tra bằng đồng tiền.
  • Từ đó có thế cho rằng: Chức năng giảm sát của Tài chính là chức năng mà nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện đối với quả trình vận động của các nguồn Tài chính, để tạo lập các quỹ tiền tệ và sử dụng chúng theo các mục đích của chủ thể.
  • Đối tượng của giám sát Tài chính là quá trình vận động của các nguồn Tài chính, quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ.
  • Chủ thể của giám sát Tài chính cũng chính là các chủ thế phân phối. Bởi vì, để cho quá trình phân phối đạt tối đa tính mục đích, tính hợp lý, tính hiệu quả, bản thân các chủ thể phân phối phải tiến hành kiểm tra giám sát quá trình phân phối đó.
  • Kết quả của giảm sát Tài chính là phát hiện ra những mặt được và chưa được của quá trình phân phối, từ đó giúp tìm ra các biện pháp hiệu chỉnh các quá trình vận động của các nguồn Tài chính, quá trình phân phối của cải xã hội theo các mục tiêu đã định nhằm đạt hiệu quả cao của việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ.

Đặc điểm của giảm sát Tài chính:

  • Thứ nhất, giám sát Tài chính là giám sát bắng đồng tiền nhưng nó không đồng nhát với mọi loại giám sát bằng đồng tiền khác trong xã hội. Giám sát Tài chính được thực hiện đôi với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nằm trong tay các chủ thể trong nền kinh tế quốc dân.
  • Thứ hai, giám sát Tài chính là loại giám sát rất toàn diện thường xuyên, liên tục và rộng rãi. Như đã biết, giám sát Tài chính là giám sát đối với quá trình vận động của các nguồn Tài chính - vốn tiền tệ. Trong điều kiện kinh tế hàng hóa - tiền tệ, vốn tiền tệ là điều kiện tiền đề cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Không một lĩnh vực kinh tế - xã hội nào có thế tồn tại và phát triển nếu không có nguồn Tài chính đảm bảo. Ở đâu có sự vận động của các nguồn Tài chính thì ở đó có giám sát Tài chính. Như vậy, giám sát Tài chính có phạm vi hết sức rộng lớn. Mặt khác, sự vận động của các nguồn Tài chính thông qua các hoạt động liên tục để phục vụ cho các hoạt động kinh tế - xã hội. Vì vậy, giám sát Tài chính là loại giám sát được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục. về mặt phương pháp, giám sát - kiểm tra Tài chính được thực hiện thông qua việc phân tích các chỉ tiêu Tài chính, các chỉ tiêu Tài chính là những chỉ tiêu mang tính chất tổng hợp phản ánh đồng bộ các mặt hoạt động khác nhau của một đơn vị, cũng như của toàn bộ nền kinh tế. Do đó, giám sát Tài chính là loại giám sát rất toàn diện. Chính nhờ vào đặc điểm kể trên mà giám sát Tài chính là loại giám sát rất có hiệu quả và có tác dụng rất kịp thời.

Trong đời sống thực tiễn, công tác giám sát - kiểm tra Tài chính được tiến hành rộng rãi trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của Tài chính, thông qua tất cả các khâu của hệ thống Tài chính.

3.3 Chức năng huy động, tạo lập vốn

Đây là chức năng tạo lập các nguồn Tài chính, thế hiện khả năng tổ chức khai thác các nguồn Tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế.

Việc huy động vốn phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu và giá cả của vốn

Sản xuất, lưu thông hàng hóa đòi hỏi phải có trước nguồn vổn, tiền tệ đầu tư vào các yếu tố sản xuất, vcin tiền tệ trở thành tiền đề cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, vốn tiền tệ có được nhờ Tài chính có chức năng huy động vốn. Trong bất cứ phương thức sản xuất nào, việc huy động vôn đều dựa vào sản xuất thặng dư tiết kiệm được, tích lũy được các nguồn khác nhau, quá trình tạo lập vốn mang hình thức và bắt nguồn từ các chủ thể khác nhau, ở các khâu khác nhau của hệ thông Tài chính cụ thể như sau:

Huy dộng vốn ở khâu Ngân sách nhà nước dưới các hình thức:

  • Thuế, phí, lệ phí:
    • Với tư cách Nhà nước là chủ thể có quyền lực chính trị mạnh nhất, thông qua luật pháp do nhà nước ban hành, chức năng tạo lập vổn thể hiện việc tạo lập các quỹ tiền tệ tập trung trong tay nhà nước. Nhà nước bắt buộc các doanh nghiệp, dân cư phải đóng thuế, phí, lệ phí... để tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước. Vì vậy thuê là công cụ huy động nguồn lực Tài chính chủ yếu của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
    • Mặt khác nhà nước với tư cách là người sở hừu tài sản của quốc gia hình thành các doanh nghiệp nhà nước (các tổng công ty, công ty...) để tạo lập vốn, trong nền kinh tế thị trường nhà nước giảm bao cấp cho Doanh nghiệp nhà nước, chỉ để lại những Doanh nghiệp nhà nước cung cấp các Hàng hóa thiết yếu mà người dân không sản xuất được, và tiến tới giảm số lượng Doanh nghiệp nhà nước, giảm dần trợ cấp vốn cho Doanh nghiệp thông qua cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
  • Phát hành Trái phiếu Chính phủ:
    • Những lúc thiếu hụt ngân sách, nhà nước lại phát hành các Trái phiếu Chính phủ để vay tiền của doanh nghiệp, dân cư tạo lập vốn của Nhà nước thông qua con đường tín dụng..

Huy động vốn ở khâu Tài chính doanh nghiệp:

Nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều phải có vốn. Vốn là điều kiện không thế thiếu được đế thành lập một doanh nghiệp và tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn này được tạo lập từ nhiều nguồn như: vốn chủ sở hữu, vay ngân hàng, vay trong dân chúng (bằng cách phát hành trái phiếu doanh nghiệp của những doanh nghiệp lớn, uy tín),... Nhằm thực hiện chức năng nói trên, trước hết doanh nghiệp phải dự trù nhu cầu vổn, tiếp đến cần lựa chọn nguồn vốn phù hợp, một loạt vấn đề cần được lựa chọn như: nên huy động vốn từ chủ sở hữu hay nôn vay? Cơ cấu giừa nợ và vốn chủ sở hữu thế nào là tốt nhất? Nếu vay thì nên phát hành trái phiếu hay vay ở các tố chức tín dụng ngân hàng thương mại, hay sử dụng phương thức tín dụng thuê mua? thời hạn và lãi suất vay?... Doanh nghiệp nào cũng phải đưa ra quyết định phù hợp với doanh nghiệp trong quá trình tồn tại và phát triển.

Tạo lập vốn ở các khâu Tài chính khác:

Tài chính hộ gia đình và tổ chức xã hội, các trung gian Tài chính như bảo hiểm, tín dụng..., đều thông qua chức năng tạo lập vốn của Tài chính để hình thành các quỳ tiền tộ phù hợp với mục tiêu hoạt động, và chính do yêu cầu của nền sản xuất trong xã hội thông qua các tổ chức Tài chính trung gian, các nguồn vốn trong tay các chủ thể khác nhau đó có thể luân chuyển vốn từ người cung ứng sang người sử dụng.

Để tạo lập vốn ngày một phong phú, đa dạng cũng như đế nuôi dưỡng và phát triển các nguồn Tài chính, cần chú trọng các vấn đề sau đây.

  • Một là hoàn thiện và đòi hỏi công cụ tạo lập vốn phù hợp với điều kiện của đât nước.
  • Hai là hỗ trợ những công cuộc cải cách khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ phát triển ngành nghề mới, sản phẩm mới, đổi mới cơ cấu sản xuất kinh doanh.
  • Ba là đầu tư để phát triển lực lượng sản xuất hiện có và lực lượng sản xuất mói.

Là những thuộc tính khách quan vốn có bên trong của phạm trù Tài chính, các chức năng phân phối, giám sát và tạo lập vốn của Tài chính có mối liên hệ hữu cơ gắn bó với nhau. Chính sự hiện diện của chức năng phân phối đã đòi hỏi sự cần thiết của chức năng giám sát để đảm bảo cho quá trình phân phối được đúng đắn, hợp lý hơn theo mục tiêu đã định. Trong thực tiễn, công tác giám sát - kiểm tra Tài chính có thể diễn ra đồng thời với công tác phân phối, công tác tố chức sự vận động của các nguồn Tài chính, quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, cũng có thể diễn ra độc lập tương đối, không đi liền ngay với hoạt động phân phôi, mà có thể đi trước hành động phân phôi, hoặc có thể được thực hiện sau khi hành động phân phối đã kết thúc.

4. Vai trò của Tài chính trong nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế ở Việt Nam

  • Tài chính có vai trò là công cụ phân phối tổng sản phẩm quốc dân Vai trò này của Tài chính chủ yếu thông qua khâu Tài chính Nhà nước (quỹ Ngân sách nhà nước), đây là quỹ tiền tệ lớn nhất nằm trong tay nhà nước.
  • Tài chính là mạch máu của nền kinh tế vì vậy nó có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và mở đường cho sự phát triển nhanh và bền vững trong nền kinh tế, thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh; là công cụ sắc bén để Nhà nước quản lý và điều tiết vĩ mô, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
  • Thông qua hệ thông Tài chính trong đó Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nhà nước huy động các nguồn lực của xã hội, phân phối sử dụng cho nhu cầu phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh của cả nước.
  • Mặt khác Tài chính thực hiện phân phối một bộ phận quan trọng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được tạo ra từ hoạt động sản xuất xã hội. Do đó hoạt động Tài chính phải hướng vào phục vụ sản xuất và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, đồng thời trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường hội nhập quốc tế ở Việt Nam, Tài chính được sử dụng như một công cụ phân phối hiệu quả để thích ứng kinh tế hội nhập, mở đường cho sự phát triển nhanh, vững chắc nền kinh tế xã hội.

Tài chính giữ vai trò là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội:

Vai trò quản lý, điều tiết vĩ mô của nền kinh tế xã hội của Tài chính được thể hiện trong việc định hướng, khuyến khích, hướng dẫn và điều tiết các quan hệ kinh tế phát triển theo đường lối chính sách, luật pháp nhà nước, theo hướng có lợi cho nền kinh tế. Vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế của Tài chính được nhà nước thể chế hóa bằng hệ thống Luật Tài chính và các Luật Kinh tế có liên quan như: Luật Ngân sách nhà nước, các sắc luật về Thuế, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật các Tổ chức Tín dụng, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán... Việc phát triển nền kinh tế thị trường trong hội nhập quốc tế buộc nhà nước phải hoàn chỉnh các bộ luật nêu trên phù hợp với thông lệ quốc tế.

Tài chính giữ vai trò kiềm tra, giảm sát bằng đồng tiền đối với mọi hoạt động trong nền kinh tế quốc dân:

Trong nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế như ở Việt Nam, vai trò kiểm tra, giám sát của Tài chính cần phát huy mạnh mẽ để mọi chủ thể trong nền kinh tế sử dụng vốn sản xuất, kinh doanh ngày càng có hiệu quả, sử dụng Ngân sách Nhà nước, sử dụng các quỹ công tiết kiệm, tránh tham ô, tham nhũng gây các hậu quả xấu đến nền kinh tế xã hội.