ON
YOMEDIA
VIDEO

Chứng minh mọi sự phát triển của xã hội đều hướng tới con người

Chứng minh mọi sự phát triển của xã hội đều hướng tới con ngườiwink

Theo dõi Vi phạm
YOMEDIA

Trả lời (11)

 
 
 
  • a) Khái niệm văn hóa và nền văn hóa

    Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.

    Khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loại hình hoạt động cơ bản là "sản xuất vật chất" và "sản xuất tinh thần". Do đó, văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.

    Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất. Văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người. Đó là những giá trị cần thiết cho hoạt động tinh thần, những tiêu chí, nguyên tắc chi phối hoạt động nói chung và hoạt động tinh thần nói riêng, chi phối hoạt động ứng xử, những tri thức, kỹ năng, giá trị khoa học, nghệ thuật được con người sáng tạo và tích lũy trong lịch sử của mình; là nhu cầu tinh thần, thị hiếu của con người và những phương thức thỏa mãn nhu cầu đó.

    Như vậy, nói văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực thuộc bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người. Do đó, văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người, trên mọi lĩnh vực hoạt động thực tiễn và sinh hoạt tinh thần của xã hội.

    Tuy nhiên, với tư cách là hoạt động tinh thần, thuộc về ý thức của con người nên sự phát triển của văn hóa bao giờ cũng chịu sự quy định của cơ sở kinh tế, chính trị của mỗi chế độ xã hội nhất định. Tách rời khỏi cơ sở kinh tế và chính trị ấy sẽ không thể hiểu được nội dung, bản chất của văn hóa. Do đó, văn hóa trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng mang tính giai cấp. Đây cũng là quy luật của xã hội có giai cấp, vì rằng phương thức sản xuất tinh thần, văn hóa không thể không phản ánh và không bị chi phối bởi phương thức sản xuất vật chất. Điều kiện sinh hoạt vật chất của mỗi xã hội và của mỗi giai cấp khác nhau, đặc biệt là của giai cấp thống trị, là yếu tố quyết định hình thành các nền văn hóa khác nhau.

    Nói đến văn hóa là nói đến khía cạnh ý thức hệ của văn hóa, tính giai cấp của văn hóa và trên cơ sở đó hiều rõ sự vận động của văn hóa trong xã hội có giai cấp. Với cách tiếp cận như vậy, có thể quan niệm: nền văn hóa là biểu hiện cho toàn bộ nội dung, tính chất của văn hóa được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế - chính trị của mỗi thời kỳ lịch sử, trong đó ý thức hệ của giai cấp thống trị chi phối phương hướng phát triển và quyết định hệ thống các chính sách, pháp luật quản lý các hoạt động văn hóa.

    Mọi nền văn hóa trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng có tính giai cấp và gắn với bản chất của giai cấp cầm quyền. Văn hóa luôn có tính kế thừa, sự kế thừa trong văn hóa luôn mang tính giai cấp và được biểu hiện ở nền văn hóa của mỗi thời kỳ lịch sử trên cơ sở kinh tế, chính trị của nó.

    Một nền kinh tế lành mạnh được xây dựng trên những nguyên tắc công bằng, thật sự vì đời sống của người lao động sẽ là điều kiện để xây dựng một nền văn hóa tinh thần lành mạnh, và nguợc lại, một nền kinh lế được xây dựng trên cơ sở bất bình đẳng của chế độ tư hữu với sự phân hóa sâu sắc thì sẽ không có được nền văn hóa lành mạnh.

    Nếu kinh tế là cơ sở vật chất của nền văn hóa, thì chính trị là yếu tố quy định khuynh hướng phát triển của một nền văn hóa, tạo nên nội dung ý thức hệ của văn hóa.

    Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp thống trị của mỗi thời kỳ lịch sử đều in dấu ấn của nó trong lịch sử phát triển của văn hóa và tạo ra nền văn hóa của xã hội đó.

    b)Khái niệm nền văn hóa xã hội chủ nghĩa

    Chế độ mới xã hội chủ nghĩa được xác lập với hai tiền đề quan trọng là tiền đề chính trị (sau khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền) và tiền đề kinh tế (chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất chủ yếu được thiết lập). Từ hai tiền đề chính trị và kinh tế đó, tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát triển trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có sự hình thành, phát triển của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.

    Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là nền văn hóa có những đặc trưng cơ bản sau đây:

    Một là, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là nội dung cốt lõi, giữ vai trò chủ đạo, quyết định phương hưởng phát triển nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.

    Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong xã hội có giai cấp, ý thức hệ giai cấp là nội dung cốt lõi của mọi nền văn hóa. Trong mọi thời đại, tư tưởng của giai cấp thống trị trở thành tư tưởng thống trị của thời đại đó. Chính vì vậy, sau khi giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền thì ý thức hệ của nó trở thành nhân tố giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội.

    Đặc trưng nói trên phản ánh bản chất giai cấp công nhân của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Mọi sự coi nhẹ, xa rời nội dung khoa học, cách mạng của ý thức hệ giai cấp công nhân đều nhất định dẫn đến kết cục là không thể xây dựng được nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.

    Hai là, nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là nền văn hóa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc. Đặc trưng này thể hiện mục đích và động lực nội tại của quá trình xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, quá trình xây dựng xã hội mới. Trong các xã hội cũ, giai cấp thống trị bóc lột độc quyền chiếm hữu tư liệu sản xuất và trên cơ sở đó cùng độc quyền chi phối đời sống tinh thần, nền văn hóa của xã hội.

    Chúng độc quyền mọi phương tiện sáng tạo và sản phẩm của hoạt động tinh thần nhằm, một mặt, tạo ra cái gọi là "văn hóa thượng lưu" phục vụ giai cấp thống trị, áp bức bóc lột; mặt khác, nhằm nô dịch tinh thần, ý thức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, giam hãm họ trong tình trạng ngu tối và nô lệ.

    Trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội, hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa không còn là đặc quyền đặc lợi của thiểu số giai cấp bóc lột. Giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ văn hóa. Công cuộc cải biến cách mạng toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội từng buớc tạo ra tiền đề vật chất, tinh thần để đông đảo nhân dân tham gia xây dựng nền văn hóa mới. Chính trong quá trình đó, văn hóa hướng tới nhân dân, dân tộc và mọi thành tựu văn hóa trở thành tài sản của nhân dân.

    Văn hóa luôn có sự kế thừa. Trong bất cứ thời kỳ nào của lịch sử, văn hóa đều đồng thời bao gồm việc kế thừa, sử dụng di sản quá khứ và sáng tạo ra những giá trị mới. Sự kế thừa và sáng tạo của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa luôn mang tính giai cấp công nhân với tư tưởng chính trị tiên tiến của thời đại và hướng tới nhân dân, dân tộc. Đông đảo nhân dân và cả dân tộc là chủ thể của văn hóa. Do đó, nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là nền văn hóa mang tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc, kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Ba là, nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là nền văn hóa được hình thành, phát triển một cách tự giác, đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua tổ chức đảng cộng sản, có sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

     

    Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa không hình thành và phát triển một cách tự phát. Trái lại, nó phải được hình thành và phát triển một cách tự giác, có sự quản lý của nhà nước và có sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp công nhân. Mọi sự coi nhẹ hoặc phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản và vai trò quàn lý của nhà nước đối với đời sống tinh thần của xã hội, đối với nền văn hóa xã hội chủ nghĩa đều nhất 

      bởi B Ming_ 16/01/2019
    Like (0) Báo cáo sai phạm
  • bạn trả lời sai ý câu hỏi rồi nhek...... nhưng cảm ơn bạn đã trả lờifrownfrownfrown

     

      bởi Trần Ngọc 16/01/2019
    Like (0) Báo cáo sai phạm
  •  Lịch sử xã hội loài người diễn ra như một dòng chảy vô tận mà mỗi hình thái xã hội sau luôn kế thừa những giá trị tích cực, tiến bộ của hình thái trước, lọc bỏ những hạn chế, lỗi thời để phát triển lên một trình độ mới cao hơn. Sự phát triển xã theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn là một quy luật tất yếu. Mô hình phát triển truyền thống của nhân loại là mô hình phát triển duy kinh tế đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Sự phân cực xã hội, đói nghèo vẫn hiện diện như một vấn đề cấp bách toàn cầu ngay trong thời đại văn minh. Mặc dù của cải, không ngừng tăng lên, song cái thiếu nhất không phải là của cải mà là sự công bằng. Đặc biệt, người ta còn nói tới cả sự công bằng giữa các thế hệ trong việc hưởng thụ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Bất công, đói nghèo, xung đột, khủng hoảng môi trường, cạn kiệt tài nguyên, v.v. hiện đang tồn tại với tư cách những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của loài người bắt nguồn từ chính những mặt trái của sự phát triển. Phát triển, nếu không được kiểm soát một cách chặt chẽ và khoa học, sẽ dẫn tới những hậu quả khôn lường cho loài người. Sau nhiều thế kỷ say sưa với thắng lợi trước thiên nhiên, giờ đây, nhân loại đã và đang thức tỉnh để sửa chữa những sai lầm của mình. Khái niệm phát triển bền vững được chính thức đưa ra trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”  vào năm 1987 và nhanh chóng có được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi. Phát triển bền vững đã trở thành xu thế tất yếu và là nhu cầu cấp bách của các quốc gia nhằm tìm kiếm một mô hình phát triển mới thay thế cho các mô hình đã bộc lộ nhiều hạn chế.

              Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển bền vững được tổ chức tại Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 đã chỉ rõ: phát triển bền vững là “sự phát triển kinh tế- xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thoả mãn các nhu cầu của họ”[1].

    Theo đó, có thể nói, “phát triển bền vững“ là một khái niệm đa phương diện, vì vậy có nhiều hướng tiếp cận khác nhau: hướng tiếp cận kinh tế, hướng tiếp cận sinh thái, hướng tiếp cận văn hoá- xã hội. Tuy nhiên, cần tiếp cận phát triển bền vững trên quan điểm toàn diện. Nếu mô hình phát triển truyền thống lấy tăng trưởng kinh tế là mục tiêu duy nhất, lấy hàng hoá, của cải là trọng tâm thì mô hình phát triển bền vững lấy con người là trọng tâm với sự kết hợp hài hòa ba mục tiêu: sinh thái, kinh tế và xã hội.

              Con người luôn giữ vị trí trung tâm trong các quá trình kinh tế - xã hội, do vậy, để thực hiện phát triển bền vững, nhân tố con người nổi lên hàng đầu trong tổng thể các nhân tố tác động và giữ vị trí trung tâm trong cả ba trụ cột sinh thái, kinh tế và xã hội.

              1. Bền vững về sinh thái

    Khái niệm phát triển biền vững ban đầu được đưa ra chủ yếu từ mối quan tâm lo ngại trước sự suy thoái của môi trường tự nhiên, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên do tác động của con người.

              Hệ sinh thái, nói rộng ra là giới tự nhiên, vốn là “thân thể vô cơ của con người”(2). Sự xuất hiện của con người là kết quả của quá trình tiến hóa của giới tự nhiên trong nhiều triệu năm. Con người là “một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên đã sản sinh ra được”(3). Như vậy, con người là một bộ phận hữu cơ của hệ sinh thái, một thành viên không tách rời của giới tự nhiên. Song, con người là một thành viên đặc biệt, một thực thể duy nhất có ý thức, có khả năng lao động, có thể tác động trở lại giới tự nhiên một cách mạnh mẽ nhất. Con vật cũng tác động vào thế giới xung quanh bằng sự có mặt của nó. Nhưng, chỉ có con người với bộ óc biết tư duy, với đôi bàn tay lao động mới đạt đến chỗ “in dấu ấn” của mình vào tự nhiên. Con người không chỉ là sản phẩm phát triển của giới tự nhiên một cách thụ động, mà còn là chủ thể tích cực của quá trình tác động cải tạo tự nhiên, biến đổi tự nhiên một cách có ý thức. Nhờ đó, con người đã tạo ra cho mình những điều kiện sinh tồn mới, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao hơn của bản thân con người. Tuy nhiên, mọi sự tác động của con người vào giới tự nhiên cũng là tác động đến con người, tàn phá tự nhiên cũng chính là huỷ diệt loài người. Bởi, như C.Mác đã khẳng định, “nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên”(4).

              Khi sự tác động của con người vào giới tự nhiên gia tăng mạnh mẽ thì hậu quả ghê gớm về mặt môi sinh cũng gia tăng, làm dấy lên những lo ngại về một cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu. Các nhà sinh thái học, các nhà khoa học môi trường cũng như các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm về tương lai của hành tinh liên tiếp đưa ra những cảnh báo. Chúng đã được các nhà hoạch định chiến lược, chính sách phát triển của các quốc gia đặc biệt quan tâm.

              Cốt lõi trong quan điểm bền vững về sinh thái là, trong quá trình phát triển, con người phải tác động vào hệ sinh thái nhằm thoả mãn nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thoả mãn nhu cầu của họ. Con người phải làm sao để hệ sinh thái có thể tự tái sinh và ngày càng phong phú hơn. Con người ngày nay không được ăn lạm vào “vốn liếng” của loài người, không làm tổn hại đến triển vọng duy trì và cải thiện mức sống cho các thế hệ mai sau. Mục tiêu của phát triển bền vững về sinh thái là khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường sống.

              Phát triển bền vững là mô hình phát triển mang tính tự giác của toàn nhân loại. Khi nhấn mạnh vai trò chủ thể tích cực của con người trong việc cải tạo tự nhiên, biến đổi tự nhiên, chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, tất cả những thành tựu đạt được của nền văn minh nhân loại cũng như những mặt trái của nó đều do con người nhận thức, định hướng, tổ chức và thực hiện. Khủng hoảng sinh thái do con người gây ra và chỉ con người mới có thể phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục nó. Phát triển bền vững về sinh thái thực chất là điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên nhằm đảm bảo sự cân bằng, đảm bảo sự hài hòa, bền vững của hệ sinh thái. Mục đích của nó là làm sao để con người, các cộng đồng, các thế hệ ngày càng được sống trong môi trường tự nhiên an toàn, bền vững, văn minh, hiện đại. Đó thực sự là quá trình do con người, vì con người; con người là chủ thể, là động lực và là mục tiêu của sự phát triển.

              Do vậy, nâng cao ý thức tự giác, chủ động, tích cực của con người trong quan hệ với tự nhiên là một trong những nguyên tắc quan trọng của phát triển bền vững.Ý thức đó được biểu hiện hết sức đa dạng trong mọi lĩnh vực với các hình thái, các cấp độ khác nhau.

              Triết học Mác đã chỉ ra cơ sở của phát triển bền vững về sinh thái, khi khẳng định rằng, “chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng chúng một cách chính xác”(5). Thật vậy, con người chỉ có thể thực sự đóng vai trò chủ thể hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên một cách có hiệu quả, làm giàu tự nhiên, mang lại lợi ích lâu dài cho con người khi con người, nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và biết vận dụng chúng một cách đúng đắn. Nếu con người tuỳ tiện tác động vào tự nhiên, bất chấp quy luật, cố tình đi ngược lại quy luật thì con người có thể thu được những lợi ích trước mắt, trong phạm vi hẹp; nhưng những hậu quả khôn lường về mặt môi sinh thì những cộng đồng khác, những thế hệ mai sau sẽ phải gánh chịu.

              Vì vậy, để phát triển bền vững về sinh thái không chỉ cần có nhận thức khoa học, mà còn cần sự kết hợp của nhiều yếu tố về chính trị, đạo đức, văn hoá, pháp luật… Người ta đã đề cập nhiều tới trách nhiệm, nghĩa vụ, lợi ích, sự công bằng giữa các cộng đồng, giai cấp, các dân tộc, các thế hệ trong việc hưởng thụ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Con người phải ý thức được rằng, việc hưởng thụ tài nguyên môi trường là lợi ích chung của toàn nhân loại; đồng thời, việc chia sẻ các lợi ích và bảo tồn chúng cũng là nghĩa vụ chung của loài người. Khi các cộng đồng dân cư cùng chia sẻ lợi ích của một dòng sông, chỉ cần một nhà máy bên bờ con sông ấy xả chất thải độc hại gây ô nhiễm nguồn nước thì sẽ là thảm họa cho tất cả cộng đồng và để lại những hậu quả lâu dài trong tương lai. Hiện tượng này không phải là cá biệt; nó không chỉ dẫn tới nguy cơ thiếu nước sạch - một trong những nguy cơ hàng đầu đe dọa sự bền vững về sinh thái, mà còn dẫn đến nhiều nguy cơ khác nữa cho sự bền vững sinh thái.

              Song, để đảm bảo sự bền vững của hệ sinh thái, con người không chỉ nhận thức, mà còn cần phải hành động. Các chính phủ, các nhà lãnh đạo của nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang triển khai Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững theo tinh thần của Tuyên bố Rio-92. Điều trớ trêu là, chính những nước đứng đầu trong việc tiêu thụ tài nguyên, thải bỏ chất thải gây ô nhiễm môi trường lại dường như thờ ơ với các cam kết quốc tế về bảo vệ tài nguyên và môi trường. Rõ ràng rằng, hệ sinh thái có phát triển an toàn, bền vững hay không phụ thuộc vào chính con người.

              2. Bền vững về kinh tế

    Bền vững về kinh tế thể hiện ở sự tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định. (Được lượng hoá qua các tiêu chí, như tổng sản phẩm trong nước GDP; GDP/người; cơ cấu GDP; tăng trưởng GDP; tổng sản phẩm quốc gia GNP).

    Để có tăng trưởng kinh tế phải có các nhân tố tất yếu : nhân tố tự nhiên, nhân tố con người, các yếu tố vật chất do con người tạo ra (công nghệ, vốn…). Nhân tố con người còn được gọi bằng những khái niệm khác, như nguồn nhân lực, tài nguyên con người, nguồn vốn con người,…

    Vai trò của nhân tố con người được đánh giá khác nhau trong mỗi giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội. Trong một thời gian dài, quan điểm truyền thống coi nguồn lực tự nhiên là lợi thế hàng đầu, nguồn lực vật chất là động lực của tăng trưởng và phát triển. Điều đó tạo ra xu hướng tập trung đầu tư vào nguồn lực vật chất và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên; ngược lại, việc đầu tư phát triển nguồn lực con người cũng như lợi ích từ việc đầu tư đó bị xem nhẹ. Người ta coi tài nguyên thiên nhiên là của trời cho và vô tận, do đó chúng thường bị sử dụng hết sức lãng phí, mức khai thác thường vượt quá mức có thể phục hồi, dẫn tới sự cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại môi trường sống của con người và sinh vật. Đó là quá trình phát triển không bền vững mà kết quả cuối cùng lại “thường hay phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên của nó”.

    Khi lợi thế trước mắt từ việc đầu tư vào khai thác các nguồn lực tự nhiên dần mất đi thì lợi thế lâu dài từ việc đầu tư vào nguồn lực con người cũng lộ rõ. Đặc biệt, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, khi mà nền kinh tế thế giới đã và đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, nguồn lực con người, nguồn lực trí tuệ càng được thừa nhận, càng giữ vai trò trung tâm trong quá trình phát triến.

    Về mặt kinh tế, nguồn lực con người được xem xét chủ yếu dưới góc độ là lực lượng lao động cơ bản của xã hội, cả trong hiện tại và tương lai. Nó chủ yếu cần được quan tâm về mặt chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất…, tức là toàn bộ năng lực sáng tạo, năng lực hoạt động thực tiễn của con người. Người lao động đã được V.I.Lênin khẳng định là “lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại”. Con người là một đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất. Nếu người lao động có kỹ năng lao động, trình độ khoa học - kỹ thuật… thì hiển nhiên là năng suất lao động sẽ cao hơn. Người lao động cần được trang bị kỹ năng lao động, sự hiểu biết, trình độ về khoa học, công nghệ..., đó là điều kiện thiết yếu nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển công nghệ tiên tiến. Con người là chủ thể khai thác, sử dụng các nguồn lực khác; chỉ khi kết hợp với con người, các nguồn lực khác mới phát huy tác dụng. Mặt khác, con người lại là khách thể, là đối tượng khai thác các năng lực thể chất và trí tuệ cho sự phát triển. Vậy con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể của các quá trình kinh tế-xã hội, là nguồn lực của mọi nguồn lực. Sự kết hợp, sự thống nhất biện chứng giữa con người với công nghệ tiên tiến là động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế.

    Đầu tư cho phát triển nguồn lực con người mang lại hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm được việc khai thác, sử dụng các nguồn lực khác. Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia trên thế giới đã cho thấy, đầu tư cho phát triển nguồn lực con người mang lại tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định hơn. Mặt khác hiệu quả đầu tư cho phát triển con người có độ lan toả đồng đều và mang lại sự công bằng hơn về cơ hội phát triển, cũng như việc hưởng thụ các lợi ích của sự phát triển. Nó nhằm hướng tới mục tiêu cuối cùng là mang lại cuộc sống đầy đủ, tốt đẹp hơn cho con người. Quan điểm này đối lập với một số quan điểm duy kinh tế dành ưu tiên cho tài sản, của cải, xem đó là cái đích của sự phát triển. Khi đó, con người, người lao động, lực lượng đông đảo nhất trong xã hội chỉ được coi là phương tiện để đạt tới sự giàu có cho một số người. Con người lao động chỉ được xem xét là đối tượng khai thác giá trị kinh tế, mà không phải đối tượng đáp ứng nhu cầu do thành quả của phát triển kinh tế mang lại. Sự lộn ngược trong việc xác định mục tiêu và phương tiện đã dẫn đến những hậu quả nặng nề cả về phương diện kinh tế lẫn xã hội. Quan điểm lấy con người là trung tâm luôn xác định vai trò con người vừa là chủ thể vừa là khách thể, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của phát triển kinh tế.

    3. Bền vững về xã hội

              Trên thực tế, không phải bao giờ sự tăng trưởng kinh tế cũng tương ứng  với việc cải thiện điều kiện sống của toàn thể cộng đồng xã hội. Thậm chí, ở nhiều nơi, khi của cải xã hội tăng lên, người ta còn cảm thấy mình nghèo hơn trước và bị thải loại về mặt xã hội, khi tình trạng bất công gia tăng. Trong khi mức sống của phần lớn người dân thành thị đã tăng lên đáng kể thì vẫn có những bộ phận không nhỏ ở vùng sâu, vùng xa còn chưa được tiếp cận những điều kiện tối thiểu về y tế, giáo dục, còn thiếu thốn lương thực, nước sạch cũng như các nhu cầu sống cơ bản của con người. Khoảng cách giàu nghèo, phân tầng xã hội có xu hướng gia tăng nhanh chóng trong nền kinh tế thị trường. Như vậy, các chính sách tăng trưởng, thậm chí bền vững về kinh tế, cũng có thể gây ra những hậu quả xã hội nghiêm trọng: sự mất cân đối về mặt xã hội dẫn đến những căng thẳng, các mối quan hệ xã hội gắn bó bị phá vỡ, bạo lực gia tăng Hậu quả là làm giảm, thậm chí triệt tiêu hoàn toàn mọi cố gắng của tăng trưởng, phát triển. Đó là tính không bền vững trong sự phát triển xã hội. Rõ ràng là, để xem xét phát triển bền vững một cách toàn diện, cần phải đánh giá tác động của các mặt kinh tế, môi trường đồng thời với những tác động nằm ngay trong các vấn đề xã hội.

              Bền vững về mặt xã hội là phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo, lấy chỉ số phát triển con người làm mục tiêu cao nhất của sự phát triển xã hội (được cụ thể hoá qua chỉ số phát triển con người HDI, chỉ số bất bình đẳng thu nhập GINI, chỉ số phát triển giới GEM…).

              Ở đây, một lần nữa, vị trí trung tâm của con người lại nổi lên với tư cách mục tiêu cao nhất của sự triển xã hội. Mục tiêu của phát triển bền vững chủ yếu không phải là tạo ra nhiều hàng hóa, của cải, mà nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người, không phân biệt tầng lớp, chủng tộc, giới tính, vùng miền… Sẽ là không công bằng và cũng không thể thực hiện được việc quan tâm tới “các thế hệ tương lai trong việc thoả mãn các nhu cầu của họ”, nếu chúng ta lại bỏ qua nhu cầu của các thế hệ con người hiện nay. Khi con người còn chưa được đáp ứng những nhu cầu trước mắt, họ sống trong nghèo đói, đó là nguy cơ lớn đe dọa môi trường tự nhiên. Cạm bẫy đói nghèo lại tạo ra cái vòng luẩn quẩn cho cả con em họ- các thế hệ tương lai. Khi mà đói nghèo vẫn còn hiện diện thì cuộc đấu tranh chống đói nghèo là mục tiêu trọng tâm của phát triển bền vững về xã hội. Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người, đặc biệt là người nghèo, phụ thuộc nhiều vào cách thức phân phối của cải xã hội do tăng trưởng kinh tế mang lại. Ngày nay, tình trạng mất công bằng, bình đẳng còn tồn tại và biểu hiện hết sức đa dạng: theo giới, theo nhóm, theo không gian, theo thời gian, theo lĩnh vực, theo địa vị và các quan hệ xã hội… Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải có sự quan tâm đầy đủ, cũng như phải có các thể chế, chính sách cụ thể nhằm điều tiết bất công, một yếu tố quan trọng nhằm xoá đói giảm nghèo, đảm bảo cho phát triển bền vững.

                Con người là chủ thể của các quá trình xã hội và không ai khác, chính con người phải thực hiện phát triển bền vững về xã hội vì lợi ích của bản thân con người. Con người có thể xét trên các phương diện cá nhân, cộng đồng, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các nhà nước, quốc gia, dân tộc hoặc cả loài người. Song, trước hết, mỗi cá nhân phải tự hình thành cho mình những khả năng, năng lực sống, các cơ hội về mặt xã hội, như trình độ hiểu biết, chuyên môn nghiệp vụ, sức khoẻ, các quan hệ xã hội... Người không có trình độ chuyên môn khó có khả năng tìm được việc làm có thu nhập cao và ổn định. Thiếu thu nhập khó có khả năng tiếp cận hệ thống y tế, giáo dục tốt…Các khả năng, năng lực hạn chế hoăc bị phá vỡ gây khó khăn cho việc cải thiện cuộc sống và tái đầu tư để củng cố, phát triển năng lực cá nhân, gia đình, cộng đồng. Chất lượng nguồn nhân lực thấp lại cản trở sự phát triển bền vững của xã hội. Do vậy, mỗi cá nhân phải tự vượt qua chính mình. Bằng ý thức trách nhiệm với bản thân, bằng sự nỗ lực, rèn luyện, phấn đấu vươn lên về mọi mặt, vượt qua những thách thức, khó khăn, những hạn chế và rào cản từ mọi phía, mỗi cá nhân tự hoàn thiện, tự khẳng định với vai trò chủ thể của tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình. Cùng với tư cách  con người cá nhân, con người còn tồn tại với tư cách con người xã hội. Mỗi cá nhân cần phải có trách nhiệm chung với toàn xã hội trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, chống bất công, tệ nạn, thói hư tật xấu... để vươn tới cuộc sống ngày càng tốt đẹp và hạnh phúc. Trong khi tự hoàn thiện bản thân để đảm bảo cuộc sống ổn định và bền vững, đồng thời tham gia các nghĩa vụ xã hội, mỗi cá nhân lại thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội; họ chính là động lực và là mục tiêu của sự phát triển xã hội bền vững.

             Nhà nước có chức năng xã hội là quản lý, tổ chức, điều hành hoạt động của các tổ chức, cá nhân nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội bền vững về mọi mặt. Nhà nước là chủ thể tối cao có vai trò quan trọng trong việc đề ra mục tiêu, hoạch định đường lối, chính sách, ban hành pháp luật và sử dụng các công cụ có sức mạnh, vừa động viên, khuyến khích, vừa chế định rõ ràng cụ thể. Nhà nước hoạch định và thực thi các chính sách về xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người dân, đảm bảo an sinh xã hội, phát triển giáo dục và đào tạo....Để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững về xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường nhiều rủi ro, phức tạp, nhà nước cần nâng cao năng lực quản lý, điều hành hoạt động thông qua hệ thống giám sát từ trung ương đến địa phương; thực hiện tốt quy chế dân chủ; đào tạo đội ngũ cán bộ công chức nhà nước có đủ năng lực, phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm; có cơ chế giám sát và phòng chống quan liêu, tham nhũng...

              Các tổ chức xã hội trong nước và quốc tế, cộng đồng, doanh nghiệp... có vai trò hết sức quan trọng, cùng chia sẻ trách nhiệm và nghĩa vụ, quyền và lợi ích với nhà nước và cá nhân. Bởi lẽ, mục tiêu phát triển bền vững là vô cùng to lớn, đó là mục tiêu chung, vì lợi ích chung của toàn nhân loại. Do vậy, không một tổ chức, cá nhân nào có thể hay có quyền xem nhẹ, thờ ơ, hoặc vì lợi ích riêng mà làm trái với những nguyên tắc của phát triển bền vững.

              Để phát triển xã hội bền vững, trước hết cần phát triển con người một cách bền vững, hay làm tăng năng lực và phạm vi lựa chọn của con người để họ có một cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc. Cần phải có sự đầu tư thường xuyên, lâu dài bằng các thể chế, chính sách vừa dài hạn, vừa rõ ràng, cụ thể. Cần có sự phân chia phù hợp với các nhóm đối tượng có các đặc trưng khác nhau về vùng miền, giới tính, nghề nghiệp, tầng lớp xã hội, thậm chí cả sự khác biệt về tôn giáo hay truyền thống văn hoá. Chiến lược phát triển con người cần được xem xét trên nhiều phương diện, vừa nâng cao năng lực mọi mặt của con người, vừa tạo điều kiện phát huy tối đa các năng lực đó nhằm vươn tới mục đích cuối cùng là mang lại cuộc sống tốt đẹp, mang lại tự do, giải phóng con người.

    Ở Việt Nam, phát triển con người được coi là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển, là nhiệm vụ lâu dài của Đảng, Nhà nước và toàn dân. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, mục tiêu cao cả của cách mạng là mang lại hạnh phúc, tự do cho nhân dân. Người nói: “Nếu nước độc lâp mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa gì.(6)” Mục tiêu tổng quát mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X  Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra là: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục… giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.(7)

    Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng tự hào về phát triển con người. Tỉ lệ nghèo đói đã giảm từ trên 70% vào những năm 80 xuống xấp xỉ 20% trong năm 2008. Tuổi thọ trung bình đạt 72 tuổi. Tỉ lệ người lớn biết chữ đạt trên 90%. Chỉ số phát triển con người HDI tăng từ 0,611 năm 1992 lên 0,733 năm 2007. Đầu tư cho lĩnh vực xã hội chiếm trên 25% ngân sách nhà nước, trong đó đặc biệt ưu tiên cho xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, giáo dục đào tạo và các dịch vụ xã hội cơ bản khác. Nhiều chương trình quốc gia về phát triển xã hội đã và đang được thực hiện. Đó là bằng chứng cho thấy chiến lược phát triển con người ngày càng giữ vị trí quan trọng và được đầu tư đúng mức. Nhờ vậy, chất lượng cuộc sống của đại bộ phận người dân Việt Nam được cải thiện đáng kể.

    Tuy nhiên, mục tiêu phát triển con người ở Việt Nam trong giai đoạn trước mắt vẫn còn nhiều thách thức. Thành tựu về xóa đói giảm nghèo chưa thật vững chắc. Tỉ lệ nghèo đói, cận nghèo đói, tái nghèo ở một số vùng vẫn còn cao. Mức thu nhập bình quân trên đầu người vẫn thuộc vào loại những nước thấp nhất trên thế giới. Sức ép về dân số tiếp tục gia tăng, tình trạng thiếu việc làm vẫn là vấn đề bức xúc, đe dọa cuộc sống người dân. Chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới mà nguyên nhân quan trọng là chất lượng giáo dục - đào tạo còn thấp, chậm đổi mới, thậm chí còn có những biểu hiện yếu kém, tiêu cực. Việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội chưa được thực hiện tốt. Trái lại, khoảng cách giàu nghèo, phân tầng xã hội có xu hướng tăng nhanh trong nền kinh tế thị trường khiến cho những người nghèo nhất lại càng khó khăn hơn, ít cơ hội hơn trước.

    Từ thực tiễn phát triển đất nước trong thời gian qua, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm và cũng là tư tưởng chỉ đạo trong thời gian tới : “Phát triển nhanh phải đi đôi với nâng cao tính bền vững...Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo. Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển”(8). Quan điểm đó của Đảng ta đã thể hiện rõ sự quan tâm đầy đủ tới cả ba mục tiêu của phát triển xã hội theo hướng bền vững: bền vững về sinh thái, bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội. Để đạt mục tiêu trên, trước hết và trên hết phải nêu cao vai trò của con người với tư cách là chủ thể tích cực của quá trình tác động cải tạo tự nhiên, biến đổi tự nhiên; là chủ thể, là động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế, đồng thời là mục tiêu cao nhất của sự phát triển kinh tế-xã hội. Có thể thấy, quan điểm của Đảng ta hoàn toàn phù hợp với những tuyên bố quốc tế về phát triển bền vững, trong đó nổi lên tư tưởng lấy con người là trung tâm của sự phát triển; đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân như một nguyên tắc nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển.

      bởi ミ★Bạch Kudo★彡 18/01/2019
    Like (2) Báo cáo sai phạm
  • 1. “Con người là tổng hoà của những mối quan hệ xã hội”

    Con người là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thế giới, luôn được các nhà khoa học nghiên cứu sâu sắc với nhiều chiều cạnh. Trước Mác, những nhà triết học cho rằng: con người là một bộ phận của giới tự nhiên, là một động vật xã hội, v.v.. nhưng đến Các Mác, ông đã nghiên cứu con người với tư cách là một thực thể tự nhiên - xã hội, tồn tại và phát triển trong sự gắn bó hữu cơ với giới tự nhiên và xã hội loài người; chịu sự tác động, nhưng không phải là sản phẩm thụ động của tự nhiên và các quan hệ xã hội mà là chủ thể giữ vai trò quyết định đối với sự vận động, phát triển của thế giới và của chính mình.

     

    Theo Các Mác, lao động quyết định của sự hình thành con người, đánh dấu sự chuyển biến từ động vật thành con người. Trong lao động, con người xây dựng nên thế giới văn hoá vật chất và tinh thần của mình và cũng từ trong lao động, con người đã hình thành - chất xã hội của con người, như ngôn ngữ, tư duy, giao tiếp, quan niệm, định hướng giá trị, thế giới quan… Bản chất con người không phải là “cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt” như người ta nghĩ, mà có tính lịch sử - cụ thể. Đó là sự kết hợp giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội và “cơ sở hiện thực” của con người là “tổng số những lực lượng sản xuất, những tư bản và những hình thức xã hội của sự giao tiếp mà mỗi cá nhân và mỗi thế hệ thấy hiện có”[1]. Tính hiện thực của con người - “những cá nhân con người sống thể hiện ở sự tồn tại khách quan trong hoạt động thực tiễn của nó: “Con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội”[2] - và vì vậy, “bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hoà của những mối quan hệ xã hội”[3]. Quan điểm của Các Mác là một bước ngoặt cách mạng trong quan niệm về con người, về bản chất con người và vị trí, vai trò của con người trong tiến trình phát triển của nhân loại. Đồng thời quan điểm của Các Mác cũng cho thấy, mọi hoạt động lao động sản xuất con người đều không ngoài mục đích sáng tạo ra toàn bộ nền văn hoá vật chất và tinh thần. Cũng với ý nghĩa đó, bằng các hoạt động cách mạng, con người đánh dấu các trang sử mới cho chính mình phù hợp với nhu cầu và mục đích của mình trong tiến trình phát triển.

     

    Trong các tác phẩm của mình: “Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen” (1843), “Bản thảo kinh tế - triết học” (1844), “Luận cương về Phoiơbắc” (1845)… Các Mác đã chỉ rõ con người là thể thống nhất hoàn chỉnh, là thực thể sinh học - xã hội, hình thành nên từ hai mặt: tự nhiên và xã hội; tự nhiên và xã hội thống nhất với nhau trong bản chất con người; đồng thời khẳng định mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội. Xã hội có vai trò quan trọng đối với sự hình thành cá nhân và cá nhân cũng có vai trò không kém phần quan trọng đối với sự hình thành xã hội: “Bản thân xã hội sản xuất ra con người với tính cách là con người như thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội như thế”[4]. Trình độ giải phóng xã hội luôn được thể hiện ra ở sự tự do của cá nhân con người, vì cá nhân được giải phóng sẽ tạo ra động lực cho giải phóng xã hội và đến lượt mình, giải phóng xã hội lại trở thành điều kiện thiết yếu cho sự giải phóng cá nhân. Con người tự giải phóng cho mình và qua đó, giải phóng xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội - đó chính là sự khẳng định vị thế và vai trò của con người trong tiến trình lịch sử.

     

    Theo Các Mác, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là thước đo năng lực thực tiễn của con người và xã hội; là sự vận động chuyển giao lực lượng sản xuất giữa các thế hệ con người và nhờ sự chuyển giao ấy mà con người “hình thành nên mối liên hệ trong lịch sử loài người, hình thành lịch sử loài người” và “Lịch sử xã hội của con người luôn chỉ là lịch sử của sự phát triển cá nhân của những con người”[5]. Bởi, thông qua hoạt động thực tiễn, con người đã để lại những dấu ấn sáng tạo của bản thân mình vào giới tự nhiên, vào xã hội và qua đó, phát triển, hoàn thiện bản thân mình. Với khả năng và năng lực của mình, con người chính là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, tạo nên những nền văn minh trong lịch sử nhân loại.

     

    Từ việc giải đáp một cách duy vật về con người, bản chất con người, tính hiện thưc, con người với tư cách thực thể sinh học - xã hội, với tư cách nhân cách, vị trí và vai trò của con người trong tiến trình phát triển lịch sử nhân loại, tư tưởng của Các Mác hướng đến mục đích giải phóng con người, giải phóng xã hội. Cũng trong các nghiên cứu của mình, Các Mác khẳng định rằng: Xã hội tư bản là một bước tiến trong lịch sử phát triển của nhân loại; là cơ sở cho sự phát triển của bản chất con người, là điều kiện cho sự giải phóng xã hội, giải phóng nhân loại. Song sở hữu tư nhân, nhất là sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đã trở thành nguyên nhân và suy đến cùng, đó là nguyên nhân chủ yếu và cơ bản nhất gây ra những tai hoạ khủng khiếp cho con người, làm tha hoá con người. Theo ông, “con người đã hiểu khái niệm chế độ tư hữu, nhưng nó chưa làm rõ được cho mình bản chất của chế độ đó, vì thế, chừng nào mà con người còn chưa nhận thức được “bản chất tích cực của chế độ tư hữu và chưa hiểu được tính chất con người của nhu cầu” thì chừng đó, họ “còn bị chế độ tư hữu cầm tù và truyền nhiễm”[6]. Do vậy, việc xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu là để cứu lấy con người, giải phóng con người[7] và “muốn xoá bỏ tư tưởng về chế độ tư hữu, thì tư tưởng về chủ nghĩa cộng sản là hoàn toàn đủ rồi. Còn muốn xoá bỏ chế độ tư hữu trong hiện thực thực tế thì phải có hành động cộng sản chủ nghĩa hiện thực”[8] và lực lượng xã hội có sứ mệnh lịch sử thực hiện thành công sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng nhân loại ấy chính là giai cấp vô sản[9].

     

    Hơn nữa, mục tiêu cuối cùng của giai cấp công nhân, của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giải phóng con người, giải phóng xã hội, vì thế mà, có thể nói, chủ nghĩa xã hội mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Chủ nghĩa xã hội không chỉ dừng lại ở ý thức, ở khẩu hiệu giải phóng con người, mà trong hiện thực, con người đã từng bước được giải phóng: con người đã từ “vương quốc của tất yếu” chuyển sang “vương quốc tự do”, “trong đó sự phát triển tự do của mỗi con người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”[10]. Sự tự do đem lại cho con người quyền được lao động, được phân phối công bằng của cải vật chất và tinh thần, được tham gia vào các công việc xã hội, được phát triển và vận dụng các năng lực của mình thực hiện những nhu cầu cơ bản. Trong chủ nghĩa xã hội, tự do cá nhân không chỉ biểu hiện trong các quyền cá nhân được hưởng, mà còn được biểu hiện trong nghĩa vụ và trách nhiệm - thể hiện sự phát triển xã hội và con người.

     

     

    Quan điểm của Các Mác về con người, về giải phóng con người có giá trị to lớn về lý luận và thực tiễn, trở thành cơ sở lý luận cho nhiều ngành khoa học, cho Đảng ta trong việc giải quyết các vấn đề văn hoá, xã hội và con người: “Chủ nghĩa Mác có một ý nghĩa triết học; nó là một triết học: một “chủ nghĩa nhân bản”… chủ yếu nó là triết học về sự giải phóng và của tự do”[11]. Quan niệm của Mác về phát triển xã hội lấy sự phát triển của con người làm thước đo cho sự phát triển càng được khẳng định khi loài người đang sống trong bối cảnh quốc tế đầy những biến động, khi tính đa dạng trong các hình thức phát triển của xã hội loài người đang ngày càng thể hiện rõ nét trong cộng đồng quốc tế. Song dù phát triển ở các nước, các khu vực khác nhau, theo định hướng nào, thì mọi định hướng phát triển vẫn phải hướng tới giá trị nhân văn của nó - đó là hướng tới sự phát triển con người, phát triển con người toàn diện.

     

    2. Phát triển con người Việt Nam toàn diện theo tư tưởng của Mác

     

    Con người có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Báo cáo phát triển con người (HDR), công bố lần đầu tiên năm 1990 trong Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) nêu rõ: “Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó. Và mục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống dài lâu, mạnh khỏe và sáng tạo”. Theo đó, phát triển con người là quan điểm về phát triển của con người, vì con người và do con người chính là lấy con người làm trung tâm của sự phát triển. Để phát triển con người, cần phải đầu tư vào giáo dục, y tế, kỹ năng… để con người có thể làm việc một cách sáng tạo và có năng suất cao nhất; cần phải bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế mà con người tạo ra được phân phối rộng rãi và công bằng; cần phải hướng vào việc tạo cho con người có cơ hội tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Mục tiêu của sự phát triển không chỉ dừng lại ở phát triển xã hội mà chính là phát triển con người, là đảm bảo cho con người phát huy khả năng sáng tạo, hưởng một cuộc sống khỏe mạnh, học hành và trường thọ, được hưởng các quyền tự do chính trị, quyền con người và cá nhân trong một môi trường đảm bảo. Đây là quan điểm phát triển con người phù hợp với tư tưởng của Các Mác về phát triển con người toàn diện.

     

    Trung thành và phát triển sáng tạo học thuyết Mác, trong hành trình xây dựng một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, con người được phát triển toàn diện, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo triết học Mác về con người và giải phóng con người vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm lý luận mácxít trong bối cảnh mới. Cụ thể, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã trên cơ sở xác định giải phóng dân tộc là cơ sở để giải phóng xã hội, giải phóng con người, để lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa Thu năm 1945, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ thành chủ nhân một nước độc lập.

     

    Xác định rõ, giải phóng con người là để phát triển con người, trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận con người trong hệ giá trị của sự phát triển nhân cách; đã khẳng định Độc lập - Tự do - Hạnh phúc là mục tiêu hàng đầu của đấu tranh cách mạng; là hệ giá trị vĩnh cửu cho sự phát triển của xã hội Việt Nam và trong triết lý hành động của mình, Người luôn coi độc lập là tiền đề, tự do là then chốt; hạnh phúc là đích đến. Người viết: “Mục đích của cách mạng là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, tự do, giàu mạnh. Làm cho nhân dân được hưởng hạnh phúc và xây dựng một xã hội sung sướng, vẻ vang”[12]. Trên hành trình đi đến đích đó, trong gần 90 năm qua, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đều quán triệt, đều hướng tới mục tiêu giải phóng con người, phát triển toàn diện con người Việt Nam; từ đó, chú trọng chăm lo cho con người, gắn phát triển con người với phát triển kinh tế, văn hóa; xây dựng và mở rộng dân chủ, nâng cao các giá trị làm người…

     

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với khát vọng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, nhân dân ta đã kiên cường đấu tranh giành được những thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng (1991) đã khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội con người được giải phóng, nhân dân làm chủ đất nước, có nền kinh tế phát triển cao và nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát triển cá nhân, công bằng xã hội và dân chủ được đảm bảo”[13], “con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”[14]. Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi cuả công cuộc đổi mới đất nước”. Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tuởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội. Văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[15]. Đại hội Đảng X đã chỉ rõ: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam… Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam”[16].

     

    Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”[17]. Văn kiện Đại hội XI của Đảng ghi rõ, xây dựng “con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật”[18] và “Chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất là trong thế hệ trẻ”[19]. Tiếp đó, Nghị quyết số 33-NQ/TW khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã nêu rõ quan điểm về phát triển con người Việt Nam hiện nay: “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước”. Từ đó, Nghị quyết xác định nhiệm vụ: “1- Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách (…) Xây dựng và phát huy lối sống “Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người” (…) Nâng cao thể lực, tầm vóc con người Việt Nam, gắn giáo dục thể chất với giáo dục tri thức, đạo đức, kỹ năng sống, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

     

    Tiếp đó, vấn đề phát triển con người toàn diện là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được khẳng định tại Đại XII của Đảng: “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc”[20]. Một trong nhữngnhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm 2016-2020 là xây dựng “con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[21] và “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển”. Đây là quan điểm mới, phù hợp với thực tiễn phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây cũng là một bước tiến quan trọng của Đảng khi không chỉ nhận thức đúng về yêu cầu tất yếu phải phát triển con người mà đã biến thành nhiệm vụ, thành hoạt động thực tiễn phải được thực hiện đồng bộ với các nhiệm vụ quan trọng khác trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

     

    Thấu triệt rõ lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội Việt Nam là con người Việt Nam; lực lượng sáng tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam là con người Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo tư tưởng của Các Mác về con người, giải phóng con người trong điều kiện cụ thể của Việt Nam để chăm lo cho con người, phát triển con người Việt Nam toàn diện. Chú trọng phát triển con người, coi con người là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, trong hơn 30 năm đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển con người Việt Nam phát triển toàn diện cả về trí lực lẫn thể lực, cả về lý tưởng sống, lối sống, năng lực, trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

     

    Chỉ một ví dụ nhỏ về chỉ số phát triển con người - HDI (chỉ số phát triển con người dựa trên kết quả đạt được về thu nhập, giáo dục và y tế) của Việt Nam những năm gần đây cũng cho thấy, dù còn khó khăn, song Việt Nam đã có những cố gắng lớn trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao; nhất là vấn đề giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện nhiều chính sách để ổn định, từng bước nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Mặc dù còn không ít hạn chế, song những thành tựu của Việt Nam về phát triển con người đã được thực tiễn chứng minh và không thể phủ nhận. HDI của Việt Nam liên tục tăng qua các năm. Nếu năm 2000, HDI của Việt Nam đạt 0,683 điểm (thuộc nhóm trung bình), thì năm 2010 là 0,733 điểm (xếp trong nhóm trung bình cao của thế giới). Năm 2014, Việt Nam được xếp thứ 116/188 nước (ở thứ hạng trên của nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình).  Năm 2016, chỉ số HDI tổng quát của Việt Nam tăng 1%, lên 0,683 và ở mức trung bình, xếp hạng 115 trên tổng số 188 quốc gia, tăng 2 bậc so với năm trước. Chỉ số này được cải thiện nhờ tăng trưởng GDP, chỉ số y tế ở mức cao trong khi chỉ số giáo dục tăng chậm hơn. Chỉ số IHDI - đo lường mức độ bất bình đẳng cũng đã tương đối tốt, chênh lệch 17,8% so với chỉ số HDI, tốt nhất khu vực châu Á- Thái Bình Dương[22]

     

    Như vậy là, cùng với yêu cầu về phát triển kinh tế, việc chăm lo cho con người, chú trọng phát triển con người toàn diện - nguồn nhân lực quan trọng của mỗi quốc gia, dân tộc là tất yếu và rất cần thiết. Tăng trưởng kinh tế, thực hiện tốt và có hiệu quả các chính sách xã hội như: Xóa đói, giảm nghèo, lao động, việc làm, phát triển hệ thống y tế… là điều kiện để con người được phát triển toàn diện. Khi con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, thì sự phát triển của các lĩnh vực khác phải nhằm và chính là để tạo ra những tiền đề vật chất, tinh thần cho sự phát triển toàn diện của con người; và ở Việt Nam, vấn đề trọng yếu này luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, chỉ đạo và thực hiện./.

      bởi Lê Thanh Ngọc 20/01/2019
    Like (5) Báo cáo sai phạm
  • - Tạo ra lượng của cải vật chất rất lớn cho xã hội. Cung cấp hầu hết tư liệu sản xuất, cơ sở vật chất kĩ thuật cho các ngành kinh tế mà không ngành nào có thê tl thế được, cũng như các mặt hàng tiêu dùng phục vụ đời sống con người.

    - Thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp và các ngành dịch vụ theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.

    - Làm thay đổi sự phân công lao động, phát huy thế mạnh của mỗi vùng, giảm chênh lệch trình độ phát triển giừa các vùng.

    - Tạo ra những sản phẩm mới mà không ngành sản xuất vật chất nào sánh được, góp phần mờ rộng sản xuất, thị trường lao động, tạo việc làm và tăng thu nhập.

    - Công nghiệp còn làm thay đổi phưong pháp tồ chức, quản lí sản xuất. Đóng góp to lớn vào tốc độ tăng trưởng và tích lũy nền kinh tế. Từ vai trò quan trọng của công nghiệp đối với kinh tế và xã hội, nên tỉ trọng công nghiệp trong GDP là tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế

      bởi B Ming_ 20/01/2019
    Like (0) Báo cáo sai phạm
  • người luôn giữ vị trí trung tâm trong các quá trình kinh tế - xã hội, nhân tố con người chiếm vị trí hàng đầu trong tổng thể các nhân tố tác động đến sự phát triển xã hội, trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích vai trò của con người trong sự phát triển xã hội theo hướng bền vững trên ba phương diện: 1. Bền vững về sinh thái; 2. Bền vững về kinh tế; 3. Bền vững về xã hội.

    Ảnh minh họa

    Ảnh minh họa

              Lịch sử xã hội loài người diễn ra như một dòng chảy vô tận mà mỗi hình thái xã hội sau luôn kế thừa những giá trị tích cực, tiến bộ của hình thái trước, lọc bỏ những hạn chế, lỗi thời để phát triển lên một trình độ mới cao hơn. Sự phát triển xã theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn là một quy luật tất yếu. Mô hình phát triển truyền thống của nhân loại là mô hình phát triển duy kinh tế đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Sự phân cực xã hội, đói nghèo vẫn hiện diện như một vấn đề cấp bách toàn cầu ngay trong thời đại văn minh. Mặc dù của cải, không ngừng tăng lên, song cái thiếu nhất không phải là của cải mà là sự công bằng. Đặc biệt, người ta còn nói tới cả sự công bằng giữa các thế hệ trong việc hưởng thụ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Bất công, đói nghèo, xung đột, khủng hoảng môi trường, cạn kiệt tài nguyên, v.v. hiện đang tồn tại với tư cách những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của loài người bắt nguồn từ chính những mặt trái của sự phát triển. Phát triển, nếu không được kiểm soát một cách chặt chẽ và khoa học, sẽ dẫn tới những hậu quả khôn lường cho loài người. Sau nhiều thế kỷ say sưa với thắng lợi trước thiên nhiên, giờ đây, nhân loại đã và đang thức tỉnh để sửa chữa những sai lầm của mình. Khái niệm phát triển bền vững được chính thức đưa ra trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”  vào năm 1987 và nhanh chóng có được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi. Phát triển bền vững đã trở thành xu thế tất yếu và là nhu cầu cấp bách của các quốc gia nhằm tìm kiếm một mô hình phát triển mới thay thế cho các mô hình đã bộc lộ nhiều hạn chế.

              Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển bền vững được tổ chức tại Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 đã chỉ rõ: phát triển bền vững là “sự phát triển kinh tế- xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thoả mãn các nhu cầu của họ”[1].

    Theo đó, có thể nói, “phát triển bền vững“ là một khái niệm đa phương diện, vì vậy có nhiều hướng tiếp cận khác nhau: hướng tiếp cận kinh tế, hướng tiếp cận sinh thái, hướng tiếp cận văn hoá- xã hội. Tuy nhiên, cần tiếp cận phát triển bền vững trên quan điểm toàn diện. Nếu mô hình phát triển truyền thống lấy tăng trưởng kinh tế là mục tiêu duy nhất, lấy hàng hoá, của cải là trọng tâm thì mô hình phát triển bền vững lấy con người là trọng tâm với sự kết hợp hài hòa ba mục tiêu: sinh thái, kinh tế và xã hội.

              Con người luôn giữ vị trí trung tâm trong các quá trình kinh tế - xã hội, do vậy, để thực hiện phát triển bền vững, nhân tố con người nổi lên hàng đầu trong tổng thể các nhân tố tác động và giữ vị trí trung tâm trong cả ba trụ cột sinh thái, kinh tế và xã hội.

              1. Bền vững về sinh thái

    Khái niệm phát triển biền vững ban đầu được đưa ra chủ yếu từ mối quan tâm lo ngại trước sự suy thoái của môi trường tự nhiên, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên do tác động của con người.

              Hệ sinh thái, nói rộng ra là giới tự nhiên, vốn là “thân thể vô cơ của con người”(2). Sự xuất hiện của con người là kết quả của quá trình tiến hóa của giới tự nhiên trong nhiều triệu năm. Con người là “một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên đã sản sinh ra được”(3). Như vậy, con người là một bộ phận hữu cơ của hệ sinh thái, một thành viên không tách rời của giới tự nhiên. Song, con người là một thành viên đặc biệt, một thực thể duy nhất có ý thức, có khả năng lao động, có thể tác động trở lại giới tự nhiên một cách mạnh mẽ nhất. Con vật cũng tác động vào thế giới xung quanh bằng sự có mặt của nó. Nhưng, chỉ có con người với bộ óc biết tư duy, với đôi bàn tay lao động mới đạt đến chỗ “in dấu ấn” của mình vào tự nhiên. Con người không chỉ là sản phẩm phát triển của giới tự nhiên một cách thụ động, mà còn là chủ thể tích cực của quá trình tác động cải tạo tự nhiên, biến đổi tự nhiên một cách có ý thức. Nhờ đó, con người đã tạo ra cho mình những điều kiện sinh tồn mới, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao hơn của bản thân con người. Tuy nhiên, mọi sự tác động của con người vào giới tự nhiên cũng là tác động đến con người, tàn phá tự nhiên cũng chính là huỷ diệt loài người. Bởi, như C.Mác đã khẳng định, “nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên”(4).

              Khi sự tác động của con người vào giới tự nhiên gia tăng mạnh mẽ thì hậu quả ghê gớm về mặt môi sinh cũng gia tăng, làm dấy lên những lo ngại về một cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu. Các nhà sinh thái học, các nhà khoa học môi trường cũng như các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm về tương lai của hành tinh liên tiếp đưa ra những cảnh báo. Chúng đã được các nhà hoạch định chiến lược, chính sách phát triển của các quốc gia đặc biệt quan tâm.

              Cốt lõi trong quan điểm bền vững về sinh thái là, trong quá trình phát triển, con người phải tác động vào hệ sinh thái nhằm thoả mãn nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thoả mãn nhu cầu của họ. Con người phải làm sao để hệ sinh thái có thể tự tái sinh và ngày càng phong phú hơn. Con người ngày nay không được ăn lạm vào “vốn liếng” của loài người, không làm tổn hại đến triển vọng duy trì và cải thiện mức sống cho các thế hệ mai sau. Mục tiêu của phát triển bền vững về sinh thái là khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường sống.

              Phát triển bền vững là mô hình phát triển mang tính tự giác của toàn nhân loại. Khi nhấn mạnh vai trò chủ thể tích cực của con người trong việc cải tạo tự nhiên, biến đổi tự nhiên, chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, tất cả những thành tựu đạt được của nền văn minh nhân loại cũng như những mặt trái của nó đều do con người nhận thức, định hướng, tổ chức và thực hiện. Khủng hoảng sinh thái do con người gây ra và chỉ con người mới có thể phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục nó. Phát triển bền vững về sinh thái thực chất là điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên nhằm đảm bảo sự cân bằng, đảm bảo sự hài hòa, bền vững của hệ sinh thái. Mục đích của nó là làm sao để con người, các cộng đồng, các thế hệ ngày càng được sống trong môi trường tự nhiên an toàn, bền vững, văn minh, hiện đại. Đó thực sự là quá trình do con người, vì con người; con người là chủ thể, là động lực và là mục tiêu của sự phát triển.

              Do vậy, nâng cao ý thức tự giác, chủ động, tích cực của con người trong quan hệ với tự nhiên là một trong những nguyên tắc quan trọng của phát triển bền vững.Ý thức đó được biểu hiện hết sức đa dạng trong mọi lĩnh vực với các hình thái, các cấp độ khác nhau.

              Triết học Mác đã chỉ ra cơ sở của phát triển bền vững về sinh thái, khi khẳng định rằng, “chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng chúng một cách chính xác”(5). Thật vậy, con người chỉ có thể thực sự đóng vai trò chủ thể hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên một cách có hiệu quả, làm giàu tự nhiên, mang lại lợi ích lâu dài cho con người khi con người, nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và biết vận dụng chúng một cách đúng đắn. Nếu con người tuỳ tiện tác động vào tự nhiên, bất chấp quy luật, cố tình đi ngược lại quy luật thì con người có thể thu được những lợi ích trước mắt, trong phạm vi hẹp; nhưng những hậu quả khôn lường về mặt môi sinh thì những cộng đồng khác, những thế hệ mai sau sẽ phải gánh chịu.

              Vì vậy, để phát triển bền vững về sinh thái không chỉ cần có nhận thức khoa học, mà còn cần sự kết hợp của nhiều yếu tố về chính trị, đạo đức, văn hoá, pháp luật… Người ta đã đề cập nhiều tới trách nhiệm, nghĩa vụ, lợi ích, sự công bằng giữa các cộng đồng, giai cấp, các dân tộc, các thế hệ trong việc hưởng thụ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Con người phải ý thức được rằng, việc hưởng thụ tài nguyên môi trường là lợi ích chung của toàn nhân loại; đồng thời, việc chia sẻ các lợi ích và bảo tồn chúng cũng là nghĩa vụ chung của loài người. Khi các cộng đồng dân cư cùng chia sẻ lợi ích của một dòng sông, chỉ cần một nhà máy bên bờ con sông ấy xả chất thải độc hại gây ô nhiễm nguồn nước thì sẽ là thảm họa cho tất cả cộng đồng và để lại những hậu quả lâu dài trong tương lai. Hiện tượng này không phải là cá biệt; nó không chỉ dẫn tới nguy cơ thiếu nước sạch - một trong những nguy cơ hàng đầu đe dọa sự bền vững về sinh thái, mà còn dẫn đến nhiều nguy cơ khác nữa cho sự bền vững sinh thái.

              Song, để đảm bảo sự bền vững của hệ sinh thái, con người không chỉ nhận thức, mà còn cần phải hành động. Các chính phủ, các nhà lãnh đạo của nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang triển khai Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững theo tinh thần của Tuyên bố Rio-92. Điều trớ trêu là, chính những nước đứng đầu trong việc tiêu thụ tài nguyên, thải bỏ chất thải gây ô nhiễm môi trường lại dường như thờ ơ với các cam kết quốc tế về bảo vệ tài nguyên và môi trường. Rõ ràng rằng, hệ sinh thái có phát triển an toàn, bền vững hay không phụ thuộc vào chính con người.

              2. Bền vững về kinh tế

    Bền vững về kinh tế thể hiện ở sự tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định. (Được lượng hoá qua các tiêu chí, như tổng sản phẩm trong nước GDP; GDP/người; cơ cấu GDP; tăng trưởng GDP; tổng sản phẩm quốc gia GNP).

    Để có tăng trưởng kinh tế phải có các nhân tố tất yếu : nhân tố tự nhiên, nhân tố con người, các yếu tố vật chất do con người tạo ra (công nghệ, vốn…). Nhân tố con người còn được gọi bằng những khái niệm khác, như nguồn nhân lực, tài nguyên con người, nguồn vốn con người,…

    Vai trò của nhân tố con người được đánh giá khác nhau trong mỗi giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội. Trong một thời gian dài, quan điểm truyền thống coi nguồn lực tự nhiên là lợi thế hàng đầu, nguồn lực vật chất là động lực của tăng trưởng và phát triển. Điều đó tạo ra xu hướng tập trung đầu tư vào nguồn lực vật chất và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên; ngược lại, việc đầu tư phát triển nguồn lực con người cũng như lợi ích từ việc đầu tư đó bị xem nhẹ. Người ta coi tài nguyên thiên nhiên là của trời cho và vô tận, do đó chúng thường bị sử dụng hết sức lãng phí, mức khai thác thường vượt quá mức có thể phục hồi, dẫn tới sự cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại môi trường sống của con người và sinh vật. Đó là quá trình phát triển không bền vững mà kết quả cuối cùng lại “thường hay phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên của nó”.

    Khi lợi thế trước mắt từ việc đầu tư vào khai thác các nguồn lực tự nhiên dần mất đi thì lợi thế lâu dài từ việc đầu tư vào nguồn lực con người cũng lộ rõ. Đặc biệt, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, khi mà nền kinh tế thế giới đã và đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, nguồn lực con người, nguồn lực trí tuệ càng được thừa nhận, càng giữ vai trò trung tâm trong quá trình phát triến.

    Về mặt kinh tế, nguồn lực con người được xem xét chủ yếu dưới góc độ là lực lượng lao động cơ bản của xã hội, cả trong hiện tại và tương lai. Nó chủ yếu cần được quan tâm về mặt chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất…, tức là toàn bộ năng lực sáng tạo, năng lực hoạt động thực tiễn của con người. Người lao động đã được V.I.Lênin khẳng định là “lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại”. Con người là một đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất. Nếu người lao động có kỹ năng lao động, trình độ khoa học - kỹ thuật… thì hiển nhiên là năng suất lao động sẽ cao hơn. Người lao động cần được trang bị kỹ năng lao động, sự hiểu biết, trình độ về khoa học, công nghệ..., đó là điều kiện thiết yếu nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển công nghệ tiên tiến. Con người là chủ thể khai thác, sử dụng các nguồn lực khác; chỉ khi kết hợp với con người, các nguồn lực khác mới phát huy tác dụng. Mặt khác, con người lại là khách thể, là đối tượng khai thác các năng lực thể chất và trí tuệ cho sự phát triển. Vậy con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể của các quá trình kinh tế-xã hội, là nguồn lực của mọi nguồn lực. Sự kết hợp, sự thống nhất biện chứng giữa con người với công nghệ tiên tiến là động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế.

    Đầu tư cho phát triển nguồn lực con người mang lại hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm được việc khai thác, sử dụng các nguồn lực khác. Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia trên thế giới đã cho thấy, đầu tư cho phát triển nguồn lực con người mang lại tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định hơn. Mặt khác hiệu quả đầu tư cho phát triển con người có độ lan toả đồng đều và mang lại sự công bằng hơn về cơ hội phát triển, cũng như việc hưởng thụ các lợi ích của sự phát triển. Nó nhằm hướng tới mục tiêu cuối cùng là mang lại cuộc sống đầy đủ, tốt đẹp hơn cho con người. Quan điểm này đối lập với một số quan điểm duy kinh tế dành ưu tiên cho tài sản, của cải, xem đó là cái đích của sự phát triển. Khi đó, con người, người lao động, lực lượng đông đảo nhất trong xã hội chỉ được coi là phương tiện để đạt tới sự giàu có cho một số người. Con người lao động chỉ được xem xét là đối tượng khai thác giá trị kinh tế, mà không phải đối tượng đáp ứng nhu cầu do thành quả của phát triển kinh tế mang lại. Sự lộn ngược trong việc xác định mục tiêu và phương tiện đã dẫn đến những hậu quả nặng nề cả về phương diện kinh tế lẫn xã hội. Quan điểm lấy con người là trung tâm luôn xác định vai trò con người vừa là chủ thể vừa là khách thể, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của phát triển kinh tế.

    3. Bền vững về xã hội

              Trên thực tế, không phải bao giờ sự tăng trưởng kinh tế cũng tương ứng  với việc cải thiện điều kiện sống của toàn thể cộng đồng xã hội. Thậm chí, ở nhiều nơi, khi của cải xã hội tăng lên, người ta còn cảm thấy mình nghèo hơn trước và bị thải loại về mặt xã hội, khi tình trạng bất công gia tăng. Trong khi mức sống của phần lớn người dân thành thị đã tăng lên đáng kể thì vẫn có những bộ phận không nhỏ ở vùng sâu, vùng xa còn chưa được tiếp cận những điều kiện tối thiểu về y tế, giáo dục, còn thiếu thốn lương thực, nước sạch cũng như các nhu cầu sống cơ bản của con người. Khoảng cách giàu nghèo, phân tầng xã hội có xu hướng gia tăng nhanh chóng trong nền kinh tế thị trường. Như vậy, các chính sách tăng trưởng, thậm chí bền vững về kinh tế, cũng có thể gây ra những hậu quả xã hội nghiêm trọng: sự mất cân đối về mặt xã hội dẫn đến những căng thẳng, các mối quan hệ xã hội gắn bó bị phá vỡ, bạo lực gia tăng Hậu quả là làm giảm, thậm chí triệt tiêu hoàn toàn mọi cố gắng của tăng trưởng, phát triển. Đó là tính không bền vững trong sự phát triển xã hội. Rõ ràng là, để xem xét phát triển bền vững một cách toàn diện, cần phải đánh giá tác động của các mặt kinh tế, môi trường đồng thời với những tác động nằm ngay trong các vấn đề xã hội.

              Bền vững về mặt xã hội là phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo, lấy chỉ số phát triển con người làm mục tiêu cao nhất của sự phát triển xã hội (được cụ thể hoá qua chỉ số phát triển con người HDI, chỉ số bất bình đẳng thu nhập GINI, chỉ số phát triển giới GEM…).

              Ở đây, một lần nữa, vị trí trung tâm của con người lại nổi lên với tư cách mục tiêu cao nhất của sự triển xã hội. Mục tiêu của phát triển bền vững chủ yếu không phải là tạo ra nhiều hàng hóa, của cải, mà nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người, không phân biệt tầng lớp, chủng tộc, giới tính, vùng miền… Sẽ là không công bằng và cũng không thể thực hiện được việc quan tâm tới “các thế hệ tương lai trong việc thoả mãn các nhu cầu của họ”, nếu chúng ta lại bỏ qua nhu cầu của các thế hệ con người hiện nay. Khi con người còn chưa được đáp ứng những nhu cầu trước mắt, họ sống trong nghèo đói, đó là nguy cơ lớn đe dọa môi trường tự nhiên. Cạm bẫy đói nghèo lại tạo ra cái vòng luẩn quẩn cho cả con em họ- các thế hệ tương lai. Khi mà đói nghèo vẫn còn hiện diện thì cuộc đấu tranh chống đói nghèo là mục tiêu trọng tâm của phát triển bền vững về xã hội. Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người, đặc biệt là người nghèo, phụ thuộc nhiều vào cách thức phân phối của cải xã hội do tăng trưởng kinh tế mang lại. Ngày nay, tình trạng mất công bằng, bình đẳng còn tồn tại và biểu hiện hết sức đa dạng: theo giới, theo nhóm, theo không gian, theo thời gian, theo lĩnh vực, theo địa vị và các quan hệ xã hội… Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải có sự quan tâm đầy đủ, cũng như phải có các thể chế, chính sách cụ thể nhằm điều tiết bất công, một yếu tố quan trọng nhằm xoá đói giảm nghèo, đảm bảo cho phát triển bền vững.

                Con người là chủ thể của các quá trình xã hội và không ai khác, chính con người phải thực hiện phát triển bền vững về xã hội vì lợi ích của bản thân con người. Con người có thể xét trên các phương diện cá nhân, cộng đồng, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các nhà nước, quốc gia, dân tộc hoặc cả loài người. Song, trước hết, mỗi cá nhân phải tự hình thành cho mình những khả năng, năng lực sống, các cơ hội về mặt xã hội, như trình độ hiểu biết, chuyên môn nghiệp vụ, sức khoẻ, các quan hệ xã hội... Người không có trình độ chuyên môn khó có khả năng tìm được việc làm có thu nhập cao và ổn định. Thiếu thu nhập khó có khả năng tiếp cận hệ thống y tế, giáo dục tốt…Các khả năng, năng lực hạn chế hoăc bị phá vỡ gây khó khăn cho việc cải thiện cuộc sống và tái đầu tư để củng cố, phát triển năng lực cá nhân, gia đình, cộng đồng. Chất lượng nguồn nhân lực thấp lại cản trở sự phát triển bền vững của xã hội. Do vậy, mỗi cá nhân phải tự vượt qua chính mình. Bằng ý thức trách nhiệm với bản thân, bằng sự nỗ lực, rèn luyện, phấn đấu vươn lên về mọi mặt, vượt qua những thách thức, khó khăn, những hạn chế và rào cản từ mọi phía, mỗi cá nhân tự hoàn thiện, tự khẳng định với vai trò chủ thể của tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình. Cùng với tư cách  con người cá nhân, con người còn tồn tại với tư cách con người xã hội. Mỗi cá nhân cần phải có trách nhiệm chung với toàn xã hội trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, chống bất công, tệ nạn, thói hư tật xấu... để vươn tới cuộc sống ngày càng tốt đẹp và hạnh phúc. Trong khi tự hoàn thiện bản thân để đảm bảo cuộc sống ổn định và bền vững, đồng thời tham gia các nghĩa vụ xã hội, mỗi cá nhân lại thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội; họ chính là động lực và là mục tiêu của sự phát triển xã hội bền vững.

             Nhà nước có chức năng xã hội là quản lý, tổ chức, điều hành hoạt động của các tổ chức, cá nhân nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội bền vững về mọi mặt. Nhà nước là chủ thể tối cao có vai trò quan trọng trong việc đề ra mục tiêu, hoạch định đường lối, chính sách, ban hành pháp luật và sử dụng các công cụ có sức mạnh, vừa động viên, khuyến khích, vừa chế định rõ ràng cụ thể. Nhà nước hoạch định và thực thi các chính sách về xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người dân, đảm bảo an sinh xã hội, phát triển giáo dục và đào tạo....Để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững về xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường nhiều rủi ro, phức tạp, nhà nước cần nâng cao năng lực quản lý, điều hành hoạt động thông qua hệ thống giám sát từ trung ương đến địa phương; thực hiện tốt quy chế dân chủ; đào tạo đội ngũ cán bộ công chức nhà nước có đủ năng lực, phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm; có cơ chế giám sát và phòng chống quan liêu, tham nhũng...

              Các tổ chức xã hội trong nước và quốc tế, cộng đồng, doanh nghiệp... có vai trò hết sức quan trọng, cùng chia sẻ trách nhiệm và nghĩa vụ, quyền và lợi ích với nhà nước và cá nhân. Bởi lẽ, mục tiêu phát triển bền vững là vô cùng to lớn, đó là mục tiêu chung, vì lợi ích chung của toàn nhân loại. Do vậy, không một tổ chức, cá nhân nào có thể hay có quyền xem nhẹ, thờ ơ, hoặc vì lợi ích riêng mà làm trái với những nguyên tắc của phát triển bền vững.

              Để phát triển xã hội bền vững, trước hết cần phát triển con người một cách bền vững, hay làm tăng năng lực và phạm vi lựa chọn của con người để họ có một cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc. Cần phải có sự đầu tư thường xuyên, lâu dài bằng các thể chế, chính sách vừa dài hạn, vừa rõ ràng, cụ thể. Cần có sự phân chia phù hợp với các nhóm đối tượng có các đặc trưng khác nhau về vùng miền, giới tính, nghề nghiệp, tầng lớp xã hội, thậm chí cả sự khác biệt về tôn giáo hay truyền thống văn hoá. Chiến lược phát triển con người cần được xem xét trên nhiều phương diện, vừa nâng cao năng lực mọi mặt của con người, vừa tạo điều kiện phát huy tối đa các năng lực đó nhằm vươn tới mục đích cuối cùng là mang lại cuộc sống tốt đẹp, mang lại tự do, giải phóng con người.

    Ở Việt Nam, phát triển con người được coi là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển, là nhiệm vụ lâu dài của Đảng, Nhà nước và toàn dân. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, mục tiêu cao cả của cách mạng là mang lại hạnh phúc, tự do cho nhân dân. Người nói: “Nếu nước độc lâp mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa gì.(6)” Mục tiêu tổng quát mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X  Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra là: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục… giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.(7)

    Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng tự hào về phát triển con người. Tỉ lệ nghèo đói đã giảm từ trên 70% vào những năm 80 xuống xấp xỉ 20% trong năm 2008. Tuổi thọ trung bình đạt 72 tuổi. Tỉ lệ người lớn biết chữ đạt trên 90%. Chỉ số phát triển con người HDI tăng từ 0,611 năm 1992 lên 0,733 năm 2007. Đầu tư cho lĩnh vực xã hội chiếm trên 25% ngân sách nhà nước, trong đó đặc biệt ưu tiên cho xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, giáo dục đào tạo và các dịch vụ xã hội cơ bản khác. Nhiều chương trình quốc gia về phát triển xã hội đã và đang được thực hiện. Đó là bằng chứng cho thấy chiến lược phát triển con người ngày càng giữ vị trí quan trọng và được đầu tư đúng mức. Nhờ vậy, chất lượng cuộc sống của đại bộ phận người dân Việt Nam được cải thiện đáng kể.

    Tuy nhiên, mục tiêu phát triển con người ở Việt Nam trong giai đoạn trước mắt vẫn còn nhiều thách thức. Thành tựu về xóa đói giảm nghèo chưa thật vững chắc. Tỉ lệ nghèo đói, cận nghèo đói, tái nghèo ở một số vùng vẫn còn cao. Mức thu nhập bình quân trên đầu người vẫn thuộc vào loại những nước thấp nhất trên thế giới. Sức ép về dân số tiếp tục gia tăng, tình trạng thiếu việc làm vẫn là vấn đề bức xúc, đe dọa cuộc sống người dân. Chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới mà nguyên nhân quan trọng là chất lượng giáo dục - đào tạo còn thấp, chậm đổi mới, thậm chí còn có những biểu hiện yếu kém, tiêu cực. Việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội chưa được thực hiện tốt. Trái lại, khoảng cách giàu nghèo, phân tầng xã hội có xu hướng tăng nhanh trong nền kinh tế thị trường khiến cho những người nghèo nhất lại càng khó khăn hơn, ít cơ hội hơn trước.

     

    Từ thực tiễn phát triển đất nước trong thời gian qua, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm và cũng là tư tưởng chỉ đạo trong thời gian tới : “Phát triển nhanh phải đi đôi với nâng cao tính bền vững...Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo. Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển”(8). Quan điểm đó của Đảng ta đã thể hiện rõ sự quan tâm đầy đủ tới cả ba mục tiêu của phát triển xã hội theo hướng bền vững: bền vững về sinh thái, bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội. Để đạt mục tiêu trên, trước hết và trên hết phải nêu cao vai trò của con người với tư cách là chủ thể tích cực của quá trình tác động cải tạo tự nhiên, biến đổi tự nhiên; là chủ thể, là động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế, đồng thời là mục tiêu cao nhất của sự phát triển kinh tế-xã hội. Có thể thấy, quan điểm của Đảng ta hoàn toàn phù hợp với những tuyên bố quốc tế về phát triển bền vững, trong đó nổi lên tư tưởng lấy con người là trung tâm của sự phát triển; đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân như một nguyên tắc nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển.

      bởi B Ming_ 25/01/2019
    Like (0) Báo cáo sai phạm
  • Mọi sự phát triển của xã hội đều hướng đến con người:

    - từ xã hội cổ đại -> xh phong kiến -> xã hội tư bản -> XH chủ nghĩa: vì yêu cầu, mong muốn của con người , muốn được sống trong xã hội hòa bình, công bằng, tự chủ, văn minh

    - từ dụng cụ lao động thô sơ ( cuốc, trâu cày,..) -> những thiết bị hiện đại ( các loại máy móc) : giúp con người không tốn nhiều công sức mà công việc thì hiệu quả hơn, con người kiếm được nhiều tiền

    - từ quan niệm trái đất đứng yên và mặt trời quay xung quanh trái đât -> trái đất hình cầu và quay xung quanh mặt trời: giúp con người khám phá thiên nhiên vũ trụ.

    - từ cuộc sống hoang dã-> cư trú nhà cửa, có đồ trang sức,...: giúp con người vui hơn, yêu đời hơn, sống văn minh hơn

    => tất cả suy cho cùng đều vì con người. vì tất cả đều đem đến cho con người cuộc sống tốt hơn, vui hơn, ấm no hơn, tự do, hạnh phúc,..

      bởi Huỳnh Thị Ngọc Ngân 30/01/2019
    Like (0) Báo cáo sai phạm
  • Khẳng định con người luôn giữ vị trí trung tâm trong các quá trình kinh tế - xã hội, nhân tố con người chiếm vị trí hàng đầu trong tổng thể các nhân tố tác động đến sự phát triển xã hội, trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích vai trò của con người trong sự phát triển xã hội theo hướng bền vững trên ba phương diện: 1. Bền vững về sinh thái; 2. Bền vững về kinh tế; 3. Bền vững về xã hội.

    Ảnh minh họa

    Ảnh minh họa

              Lịch sử xã hội loài người diễn ra như một dòng chảy vô tận mà mỗi hình thái xã hội sau luôn kế thừa những giá trị tích cực, tiến bộ của hình thái trước, lọc bỏ những hạn chế, lỗi thời để phát triển lên một trình độ mới cao hơn. Sự phát triển xã theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn là một quy luật tất yếu. Mô hình phát triển truyền thống của nhân loại là mô hình phát triển duy kinh tế đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Sự phân cực xã hội, đói nghèo vẫn hiện diện như một vấn đề cấp bách toàn cầu ngay trong thời đại văn minh. Mặc dù của cải, không ngừng tăng lên, song cái thiếu nhất không phải là của cải mà là sự công bằng. Đặc biệt, người ta còn nói tới cả sự công bằng giữa các thế hệ trong việc hưởng thụ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Bất công, đói nghèo, xung đột, khủng hoảng môi trường, cạn kiệt tài nguyên, v.v. hiện đang tồn tại với tư cách những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của loài người bắt nguồn từ chính những mặt trái của sự phát triển. Phát triển, nếu không được kiểm soát một cách chặt chẽ và khoa học, sẽ dẫn tới những hậu quả khôn lường cho loài người. Sau nhiều thế kỷ say sưa với thắng lợi trước thiên nhiên, giờ đây, nhân loại đã và đang thức tỉnh để sửa chữa những sai lầm của mình. Khái niệm phát triển bền vững được chính thức đưa ra trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”  vào năm 1987 và nhanh chóng có được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi. Phát triển bền vững đã trở thành xu thế tất yếu và là nhu cầu cấp bách của các quốc gia nhằm tìm kiếm một mô hình phát triển mới thay thế cho các mô hình đã bộc lộ nhiều hạn chế.

              Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển bền vững được tổ chức tại Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 đã chỉ rõ: phát triển bền vững là “sự phát triển kinh tế- xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thoả mãn các nhu cầu của họ”[1].

    Theo đó, có thể nói, “phát triển bền vững“ là một khái niệm đa phương diện, vì vậy có nhiều hướng tiếp cận khác nhau: hướng tiếp cận kinh tế, hướng tiếp cận sinh thái, hướng tiếp cận văn hoá- xã hội. Tuy nhiên, cần tiếp cận phát triển bền vững trên quan điểm toàn diện. Nếu mô hình phát triển truyền thống lấy tăng trưởng kinh tế là mục tiêu duy nhất, lấy hàng hoá, của cải là trọng tâm thì mô hình phát triển bền vững lấy con người là trọng tâm với sự kết hợp hài hòa ba mục tiêu: sinh thái, kinh tế và xã hội.

              Con người luôn giữ vị trí trung tâm trong các quá trình kinh tế - xã hội, do vậy, để thực hiện phát triển bền vững, nhân tố con người nổi lên hàng đầu trong tổng thể các nhân tố tác động và giữ vị trí trung tâm trong cả ba trụ cột sinh thái, kinh tế và xã hội.

              1. Bền vững về sinh thái

    Khái niệm phát triển biền vững ban đầu được đưa ra chủ yếu từ mối quan tâm lo ngại trước sự suy thoái của môi trường tự nhiên, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên do tác động của con người.

              Hệ sinh thái, nói rộng ra là giới tự nhiên, vốn là “thân thể vô cơ của con người”(2). Sự xuất hiện của con người là kết quả của quá trình tiến hóa của giới tự nhiên trong nhiều triệu năm. Con người là “một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên đã sản sinh ra được”(3). Như vậy, con người là một bộ phận hữu cơ của hệ sinh thái, một thành viên không tách rời của giới tự nhiên. Song, con người là một thành viên đặc biệt, một thực thể duy nhất có ý thức, có khả năng lao động, có thể tác động trở lại giới tự nhiên một cách mạnh mẽ nhất. Con vật cũng tác động vào thế giới xung quanh bằng sự có mặt của nó. Nhưng, chỉ có con người với bộ óc biết tư duy, với đôi bàn tay lao động mới đạt đến chỗ “in dấu ấn” của mình vào tự nhiên. Con người không chỉ là sản phẩm phát triển của giới tự nhiên một cách thụ động, mà còn là chủ thể tích cực của quá trình tác động cải tạo tự nhiên, biến đổi tự nhiên một cách có ý thức. Nhờ đó, con người đã tạo ra cho mình những điều kiện sinh tồn mới, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao hơn của bản thân con người. Tuy nhiên, mọi sự tác động của con người vào giới tự nhiên cũng là tác động đến con người, tàn phá tự nhiên cũng chính là huỷ diệt loài người. Bởi, như C.Mác đã khẳng định, “nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên”(4).

              Khi sự tác động của con người vào giới tự nhiên gia tăng mạnh mẽ thì hậu quả ghê gớm về mặt môi sinh cũng gia tăng, làm dấy lên những lo ngại về một cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu. Các nhà sinh thái học, các nhà khoa học môi trường cũng như các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm về tương lai của hành tinh liên tiếp đưa ra những cảnh báo. Chúng đã được các nhà hoạch định chiến lược, chính sách phát triển của các quốc gia đặc biệt quan tâm.

              Cốt lõi trong quan điểm bền vững về sinh thái là, trong quá trình phát triển, con người phải tác động vào hệ sinh thái nhằm thoả mãn nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thoả mãn nhu cầu của họ. Con người phải làm sao để hệ sinh thái có thể tự tái sinh và ngày càng phong phú hơn. Con người ngày nay không được ăn lạm vào “vốn liếng” của loài người, không làm tổn hại đến triển vọng duy trì và cải thiện mức sống cho các thế hệ mai sau. Mục tiêu của phát triển bền vững về sinh thái là khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường sống.

              Phát triển bền vững là mô hình phát triển mang tính tự giác của toàn nhân loại. Khi nhấn mạnh vai trò chủ thể tích cực của con người trong việc cải tạo tự nhiên, biến đổi tự nhiên, chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, tất cả những thành tựu đạt được của nền văn minh nhân loại cũng như những mặt trái của nó đều do con người nhận thức, định hướng, tổ chức và thực hiện. Khủng hoảng sinh thái do con người gây ra và chỉ con người mới có thể phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục nó. Phát triển bền vững về sinh thái thực chất là điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên nhằm đảm bảo sự cân bằng, đảm bảo sự hài hòa, bền vững của hệ sinh thái. Mục đích của nó là làm sao để con người, các cộng đồng, các thế hệ ngày càng được sống trong môi trường tự nhiên an toàn, bền vững, văn minh, hiện đại. Đó thực sự là quá trình do con người, vì con người; con người là chủ thể, là động lực và là mục tiêu của sự phát triển.

              Do vậy, nâng cao ý thức tự giác, chủ động, tích cực của con người trong quan hệ với tự nhiên là một trong những nguyên tắc quan trọng của phát triển bền vững.Ý thức đó được biểu hiện hết sức đa dạng trong mọi lĩnh vực với các hình thái, các cấp độ khác nhau.

              Triết học Mác đã chỉ ra cơ sở của phát triển bền vững về sinh thái, khi khẳng định rằng, “chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng chúng một cách chính xác”(5). Thật vậy, con người chỉ có thể thực sự đóng vai trò chủ thể hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên một cách có hiệu quả, làm giàu tự nhiên, mang lại lợi ích lâu dài cho con người khi con người, nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và biết vận dụng chúng một cách đúng đắn. Nếu con người tuỳ tiện tác động vào tự nhiên, bất chấp quy luật, cố tình đi ngược lại quy luật thì con người có thể thu được những lợi ích trước mắt, trong phạm vi hẹp; nhưng những hậu quả khôn lường về mặt môi sinh thì những cộng đồng khác, những thế hệ mai sau sẽ phải gánh chịu.

              Vì vậy, để phát triển bền vững về sinh thái không chỉ cần có nhận thức khoa học, mà còn cần sự kết hợp của nhiều yếu tố về chính trị, đạo đức, văn hoá, pháp luật… Người ta đã đề cập nhiều tới trách nhiệm, nghĩa vụ, lợi ích, sự công bằng giữa các cộng đồng, giai cấp, các dân tộc, các thế hệ trong việc hưởng thụ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Con người phải ý thức được rằng, việc hưởng thụ tài nguyên môi trường là lợi ích chung của toàn nhân loại; đồng thời, việc chia sẻ các lợi ích và bảo tồn chúng cũng là nghĩa vụ chung của loài người. Khi các cộng đồng dân cư cùng chia sẻ lợi ích của một dòng sông, chỉ cần một nhà máy bên bờ con sông ấy xả chất thải độc hại gây ô nhiễm nguồn nước thì sẽ là thảm họa cho tất cả cộng đồng và để lại những hậu quả lâu dài trong tương lai. Hiện tượng này không phải là cá biệt; nó không chỉ dẫn tới nguy cơ thiếu nước sạch - một trong những nguy cơ hàng đầu đe dọa sự bền vững về sinh thái, mà còn dẫn đến nhiều nguy cơ khác nữa cho sự bền vững sinh thái.

              Song, để đảm bảo sự bền vững của hệ sinh thái, con người không chỉ nhận thức, mà còn cần phải hành động. Các chính phủ, các nhà lãnh đạo của nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang triển khai Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững theo tinh thần của Tuyên bố Rio-92. Điều trớ trêu là, chính những nước đứng đầu trong việc tiêu thụ tài nguyên, thải bỏ chất thải gây ô nhiễm môi trường lại dường như thờ ơ với các cam kết quốc tế về bảo vệ tài nguyên và môi trường. Rõ ràng rằng, hệ sinh thái có phát triển an toàn, bền vững hay không phụ thuộc vào chính con người.

              2. Bền vững về kinh tế

    Bền vững về kinh tế thể hiện ở sự tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định. (Được lượng hoá qua các tiêu chí, như tổng sản phẩm trong nước GDP; GDP/người; cơ cấu GDP; tăng trưởng GDP; tổng sản phẩm quốc gia GNP).

    Để có tăng trưởng kinh tế phải có các nhân tố tất yếu : nhân tố tự nhiên, nhân tố con người, các yếu tố vật chất do con người tạo ra (công nghệ, vốn…). Nhân tố con người còn được gọi bằng những khái niệm khác, như nguồn nhân lực, tài nguyên con người, nguồn vốn con người,…

    Vai trò của nhân tố con người được đánh giá khác nhau trong mỗi giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội. Trong một thời gian dài, quan điểm truyền thống coi nguồn lực tự nhiên là lợi thế hàng đầu, nguồn lực vật chất là động lực của tăng trưởng và phát triển. Điều đó tạo ra xu hướng tập trung đầu tư vào nguồn lực vật chất và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên; ngược lại, việc đầu tư phát triển nguồn lực con người cũng như lợi ích từ việc đầu tư đó bị xem nhẹ. Người ta coi tài nguyên thiên nhiên là của trời cho và vô tận, do đó chúng thường bị sử dụng hết sức lãng phí, mức khai thác thường vượt quá mức có thể phục hồi, dẫn tới sự cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại môi trường sống của con người và sinh vật. Đó là quá trình phát triển không bền vững mà kết quả cuối cùng lại “thường hay phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên của nó”.

    Khi lợi thế trước mắt từ việc đầu tư vào khai thác các nguồn lực tự nhiên dần mất đi thì lợi thế lâu dài từ việc đầu tư vào nguồn lực con người cũng lộ rõ. Đặc biệt, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, khi mà nền kinh tế thế giới đã và đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, nguồn lực con người, nguồn lực trí tuệ càng được thừa nhận, càng giữ vai trò trung tâm trong quá trình phát triến.

    Về mặt kinh tế, nguồn lực con người được xem xét chủ yếu dưới góc độ là lực lượng lao động cơ bản của xã hội, cả trong hiện tại và tương lai. Nó chủ yếu cần được quan tâm về mặt chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất…, tức là toàn bộ năng lực sáng tạo, năng lực hoạt động thực tiễn của con người. Người lao động đã được V.I.Lênin khẳng định là “lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại”. Con người là một đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất. Nếu người lao động có kỹ năng lao động, trình độ khoa học - kỹ thuật… thì hiển nhiên là năng suất lao động sẽ cao hơn. Người lao động cần được trang bị kỹ năng lao động, sự hiểu biết, trình độ về khoa học, công nghệ..., đó là điều kiện thiết yếu nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển công nghệ tiên tiến. Con người là chủ thể khai thác, sử dụng các nguồn lực khác; chỉ khi kết hợp với con người, các nguồn lực khác mới phát huy tác dụng. Mặt khác, con người lại là khách thể, là đối tượng khai thác các năng lực thể chất và trí tuệ cho sự phát triển. Vậy con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể của các quá trình kinh tế-xã hội, là nguồn lực của mọi nguồn lực. Sự kết hợp, sự thống nhất biện chứng giữa con người với công nghệ tiên tiến là động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế.

    Đầu tư cho phát triển nguồn lực con người mang lại hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm được việc khai thác, sử dụng các nguồn lực khác. Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia trên thế giới đã cho thấy, đầu tư cho phát triển nguồn lực con người mang lại tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định hơn. Mặt khác hiệu quả đầu tư cho phát triển con người có độ lan toả đồng đều và mang lại sự công bằng hơn về cơ hội phát triển, cũng như việc hưởng thụ các lợi ích của sự phát triển. Nó nhằm hướng tới mục tiêu cuối cùng là mang lại cuộc sống đầy đủ, tốt đẹp hơn cho con người. Quan điểm này đối lập với một số quan điểm duy kinh tế dành ưu tiên cho tài sản, của cải, xem đó là cái đích của sự phát triển. Khi đó, con người, người lao động, lực lượng đông đảo nhất trong xã hội chỉ được coi là phương tiện để đạt tới sự giàu có cho một số người. Con người lao động chỉ được xem xét là đối tượng khai thác giá trị kinh tế, mà không phải đối tượng đáp ứng nhu cầu do thành quả của phát triển kinh tế mang lại. Sự lộn ngược trong việc xác định mục tiêu và phương tiện đã dẫn đến những hậu quả nặng nề cả về phương diện kinh tế lẫn xã hội. Quan điểm lấy con người là trung tâm luôn xác định vai trò con người vừa là chủ thể vừa là khách thể, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của phát triển kinh tế.

    3. Bền vững về xã hội

              Trên thực tế, không phải bao giờ sự tăng trưởng kinh tế cũng tương ứng  với việc cải thiện điều kiện sống của toàn thể cộng đồng xã hội. Thậm chí, ở nhiều nơi, khi của cải xã hội tăng lên, người ta còn cảm thấy mình nghèo hơn trước và bị thải loại về mặt xã hội, khi tình trạng bất công gia tăng. Trong khi mức sống của phần lớn người dân thành thị đã tăng lên đáng kể thì vẫn có những bộ phận không nhỏ ở vùng sâu, vùng xa còn chưa được tiếp cận những điều kiện tối thiểu về y tế, giáo dục, còn thiếu thốn lương thực, nước sạch cũng như các nhu cầu sống cơ bản của con người. Khoảng cách giàu nghèo, phân tầng xã hội có xu hướng gia tăng nhanh chóng trong nền kinh tế thị trường. Như vậy, các chính sách tăng trưởng, thậm chí bền vững về kinh tế, cũng có thể gây ra những hậu quả xã hội nghiêm trọng: sự mất cân đối về mặt xã hội dẫn đến những căng thẳng, các mối quan hệ xã hội gắn bó bị phá vỡ, bạo lực gia tăng Hậu quả là làm giảm, thậm chí triệt tiêu hoàn toàn mọi cố gắng của tăng trưởng, phát triển. Đó là tính không bền vững trong sự phát triển xã hội. Rõ ràng là, để xem xét phát triển bền vững một cách toàn diện, cần phải đánh giá tác động của các mặt kinh tế, môi trường đồng thời với những tác động nằm ngay trong các vấn đề xã hội.

              Bền vững về mặt xã hội là phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo, lấy chỉ số phát triển con người làm mục tiêu cao nhất của sự phát triển xã hội (được cụ thể hoá qua chỉ số phát triển con người HDI, chỉ số bất bình đẳng thu nhập GINI, chỉ số phát triển giới GEM…).

              Ở đây, một lần nữa, vị trí trung tâm của con người lại nổi lên với tư cách mục tiêu cao nhất của sự triển xã hội. Mục tiêu của phát triển bền vững chủ yếu không phải là tạo ra nhiều hàng hóa, của cải, mà nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người, không phân biệt tầng lớp, chủng tộc, giới tính, vùng miền… Sẽ là không công bằng và cũng không thể thực hiện được việc quan tâm tới “các thế hệ tương lai trong việc thoả mãn các nhu cầu của họ”, nếu chúng ta lại bỏ qua nhu cầu của các thế hệ con người hiện nay. Khi con người còn chưa được đáp ứng những nhu cầu trước mắt, họ sống trong nghèo đói, đó là nguy cơ lớn đe dọa môi trường tự nhiên. Cạm bẫy đói nghèo lại tạo ra cái vòng luẩn quẩn cho cả con em họ- các thế hệ tương lai. Khi mà đói nghèo vẫn còn hiện diện thì cuộc đấu tranh chống đói nghèo là mục tiêu trọng tâm của phát triển bền vững về xã hội. Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người, đặc biệt là người nghèo, phụ thuộc nhiều vào cách thức phân phối của cải xã hội do tăng trưởng kinh tế mang lại. Ngày nay, tình trạng mất công bằng, bình đẳng còn tồn tại và biểu hiện hết sức đa dạng: theo giới, theo nhóm, theo không gian, theo thời gian, theo lĩnh vực, theo địa vị và các quan hệ xã hội… Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải có sự quan tâm đầy đủ, cũng như phải có các thể chế, chính sách cụ thể nhằm điều tiết bất công, một yếu tố quan trọng nhằm xoá đói giảm nghèo, đảm bảo cho phát triển bền vững.

                Con người là chủ thể của các quá trình xã hội và không ai khác, chính con người phải thực hiện phát triển bền vững về xã hội vì lợi ích của bản thân con người. Con người có thể xét trên các phương diện cá nhân, cộng đồng, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các nhà nước, quốc gia, dân tộc hoặc cả loài người. Song, trước hết, mỗi cá nhân phải tự hình thành cho mình những khả năng, năng lực sống, các cơ hội về mặt xã hội, như trình độ hiểu biết, chuyên môn nghiệp vụ, sức khoẻ, các quan hệ xã hội... Người không có trình độ chuyên môn khó có khả năng tìm được việc làm có thu nhập cao và ổn định. Thiếu thu nhập khó có khả năng tiếp cận hệ thống y tế, giáo dục tốt…Các khả năng, năng lực hạn chế hoăc bị phá vỡ gây khó khăn cho việc cải thiện cuộc sống và tái đầu tư để củng cố, phát triển năng lực cá nhân, gia đình, cộng đồng. Chất lượng nguồn nhân lực thấp lại cản trở sự phát triển bền vững của xã hội. Do vậy, mỗi cá nhân phải tự vượt qua chính mình. Bằng ý thức trách nhiệm với bản thân, bằng sự nỗ lực, rèn luyện, phấn đấu vươn lên về mọi mặt, vượt qua những thách thức, khó khăn, những hạn chế và rào cản từ mọi phía, mỗi cá nhân tự hoàn thiện, tự khẳng định với vai trò chủ thể của tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình. Cùng với tư cách  con người cá nhân, con người còn tồn tại với tư cách con người xã hội. Mỗi cá nhân cần phải có trách nhiệm chung với toàn xã hội trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, chống bất công, tệ nạn, thói hư tật xấu... để vươn tới cuộc sống ngày càng tốt đẹp và hạnh phúc. Trong khi tự hoàn thiện bản thân để đảm bảo cuộc sống ổn định và bền vững, đồng thời tham gia các nghĩa vụ xã hội, mỗi cá nhân lại thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội; họ chính là động lực và là mục tiêu của sự phát triển xã hội bền vững.

             Nhà nước có chức năng xã hội là quản lý, tổ chức, điều hành hoạt động của các tổ chức, cá nhân nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội bền vững về mọi mặt. Nhà nước là chủ thể tối cao có vai trò quan trọng trong việc đề ra mục tiêu, hoạch định đường lối, chính sách, ban hành pháp luật và sử dụng các công cụ có sức mạnh, vừa động viên, khuyến khích, vừa chế định rõ ràng cụ thể. Nhà nước hoạch định và thực thi các chính sách về xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người dân, đảm bảo an sinh xã hội, phát triển giáo dục và đào tạo....Để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững về xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường nhiều rủi ro, phức tạp, nhà nước cần nâng cao năng lực quản lý, điều hành hoạt động thông qua hệ thống giám sát từ trung ương đến địa phương; thực hiện tốt quy chế dân chủ; đào tạo đội ngũ cán bộ công chức nhà nước có đủ năng lực, phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm; có cơ chế giám sát và phòng chống quan liêu, tham nhũng...

              Các tổ chức xã hội trong nước và quốc tế, cộng đồng, doanh nghiệp... có vai trò hết sức quan trọng, cùng chia sẻ trách nhiệm và nghĩa vụ, quyền và lợi ích với nhà nước và cá nhân. Bởi lẽ, mục tiêu phát triển bền vững là vô cùng to lớn, đó là mục tiêu chung, vì lợi ích chung của toàn nhân loại. Do vậy, không một tổ chức, cá nhân nào có thể hay có quyền xem nhẹ, thờ ơ, hoặc vì lợi ích riêng mà làm trái với những nguyên tắc của phát triển bền vững.

              Để phát triển xã hội bền vững, trước hết cần phát triển con người một cách bền vững, hay làm tăng năng lực và phạm vi lựa chọn của con người để họ có một cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc. Cần phải có sự đầu tư thường xuyên, lâu dài bằng các thể chế, chính sách vừa dài hạn, vừa rõ ràng, cụ thể. Cần có sự phân chia phù hợp với các nhóm đối tượng có các đặc trưng khác nhau về vùng miền, giới tính, nghề nghiệp, tầng lớp xã hội, thậm chí cả sự khác biệt về tôn giáo hay truyền thống văn hoá. Chiến lược phát triển con người cần được xem xét trên nhiều phương diện, vừa nâng cao năng lực mọi mặt của con người, vừa tạo điều kiện phát huy tối đa các năng lực đó nhằm vươn tới mục đích cuối cùng là mang lại cuộc sống tốt đẹp, mang lại tự do, giải phóng con người.

    Ở Việt Nam, phát triển con người được coi là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển, là nhiệm vụ lâu dài của Đảng, Nhà nước và toàn dân. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, mục tiêu cao cả của cách mạng là mang lại hạnh phúc, tự do cho nhân dân. Người nói: “Nếu nước độc lâp mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa gì.(6)” Mục tiêu tổng quát mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X  Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra là: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục… giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.(7)

    Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng tự hào về phát triển con người. Tỉ lệ nghèo đói đã giảm từ trên 70% vào những năm 80 xuống xấp xỉ 20% trong năm 2008. Tuổi thọ trung bình đạt 72 tuổi. Tỉ lệ người lớn biết chữ đạt trên 90%. Chỉ số phát triển con người HDI tăng từ 0,611 năm 1992 lên 0,733 năm 2007. Đầu tư cho lĩnh vực xã hội chiếm trên 25% ngân sách nhà nước, trong đó đặc biệt ưu tiên cho xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, giáo dục đào tạo và các dịch vụ xã hội cơ bản khác. Nhiều chương trình quốc gia về phát triển xã hội đã và đang được thực hiện. Đó là bằng chứng cho thấy chiến lược phát triển con người ngày càng giữ vị trí quan trọng và được đầu tư đúng mức. Nhờ vậy, chất lượng cuộc sống của đại bộ phận người dân Việt Nam được cải thiện đáng kể.

    Tuy nhiên, mục tiêu phát triển con người ở Việt Nam trong giai đoạn trước mắt vẫn còn nhiều thách thức. Thành tựu về xóa đói giảm nghèo chưa thật vững chắc. Tỉ lệ nghèo đói, cận nghèo đói, tái nghèo ở một số vùng vẫn còn cao. Mức thu nhập bình quân trên đầu người vẫn thuộc vào loại những nước thấp nhất trên thế giới. Sức ép về dân số tiếp tục gia tăng, tình trạng thiếu việc làm vẫn là vấn đề bức xúc, đe dọa cuộc sống người dân. Chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới mà nguyên nhân quan trọng là chất lượng giáo dục - đào tạo còn thấp, chậm đổi mới, thậm chí còn có những biểu hiện yếu kém, tiêu cực. Việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội chưa được thực hiện tốt. Trái lại, khoảng cách giàu nghèo, phân tầng xã hội có xu hướng tăng nhanh trong nền kinh tế thị trường khiến cho những người nghèo nhất lại càng khó khăn hơn, ít cơ hội hơn trước.

    Từ thực tiễn phát triển đất nước trong thời gian qua, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm và cũng là tư tưởng chỉ đạo trong thời gian tới : “Phát triển nhanh phải đi đôi với nâng cao tính bền vững...Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo. Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển”(8). Quan điểm đó của Đảng ta đã thể hiện rõ sự quan tâm đầy đủ tới cả ba mục tiêu của phát triển xã hội theo hướng bền vững: bền vững về sinh thái, bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội. Để đạt mục tiêu trên, trước hết và trên hết phải nêu cao vai trò của con người với tư cách là chủ thể tích cực của quá trình tác động cải tạo tự nhiên, biến đổi tự nhiên; là chủ thể, là động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế, đồng thời là mục tiêu cao nhất của sự phát triển kinh tế-xã hội. Có thể thấy, quan điểm của Đảng ta hoàn toàn phù hợp với những tuyên bố quốc tế về phát triển bền vững, trong đó nổi lên tư tưởng lấy con người là trung tâm của sự phát triển; đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân như một nguyên tắc nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển.

      bởi phùng kim huy 20/04/2019
    Like (0) Báo cáo sai phạm
  • Lịch sử xã hội loài người diễn ra như một dòng chảy vô tận mà mỗi hình thái xã hội sau luôn kế thừa những giá trị tích cực, tiến bộ của hình thái trước, lọc bỏ những hạn chế, lỗi thời để phát triển lên một trình độ mới cao hơn. Sự phát triển xã theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn là một quy luật tất yếu. Mô hình phát triển truyền thống của nhân loại là mô hình phát triển duy kinh tế đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Sự phân cực xã hội, đói nghèo vẫn hiện diện như một vấn đề cấp bách toàn cầu ngay trong thời đại văn minh. Mặc dù của cải, không ngừng tăng lên, song cái thiếu nhất không phải là của cải mà là sự công bằng. Đặc biệt, người ta còn nói tới cả sự công bằng giữa các thế hệ trong việc hưởng thụ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Bất công, đói nghèo, xung đột, khủng hoảng môi trường, cạn kiệt tài nguyên, v.v. hiện đang tồn tại với tư cách những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của loài người bắt nguồn từ chính những mặt trái của sự phát triển.

    Ở Việt Nam, phát triển con người được coi là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển, là nhiệm vụ lâu dài của Đảng, Nhà nước và toàn dân. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, mục tiêu cao cả của cách mạng là mang lại hạnh phúc, tự do cho nhân dân. Người nói: “Nếu nước độc lâp mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa gì.(6)” Mục tiêu tổng quát mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X  Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra là: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục… giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.(7)

    Từ thực tiễn phát triển đất nước trong thời gian qua, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm và cũng là tư tưởng chỉ đạo trong thời gian tới : “Phát triển nhanh phải đi đôi với nâng cao tính bền vững...Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo. Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển”(8). Quan điểm đó của Đảng ta đã thể hiện rõ sự quan tâm đầy đủ tới cả ba mục tiêu của phát triển xã hội theo hướng bền vững: bền vững về sinh thái, bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội. Để đạt mục tiêu trên, trước hết và trên hết phải nêu cao vai trò của con người với tư cách là chủ thể tích cực của quá trình tác động cải tạo tự nhiên, biến đổi tự nhiên; là chủ thể, là động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế, đồng thời là mục tiêu cao nhất của sự phát triển kinh tế-xã hội. Có thể thấy, quan điểm của Đảng ta hoàn toàn phù hợp với những tuyên bố quốc tế về phát triển bền vững, trong đó nổi lên tư tưởng lấy con người là trung tâm của sự phát triển; đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân như một nguyên tắc nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển.

      bởi -=.=- Gia Đạo 17/06/2019
    Like (0) Báo cáo sai phạm
  • I. Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về con người:

    Có thể nói vấn đề con người là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thế giới từ trước tới nay. Đó là vấn đề mà luôn được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu phân tích một cách sâu sắc nhất. Không những thế trong nhiều đề tài khoa học của xã hội xưa và nay thì đề tài con người là một trung tâm được các nhà nghiên cứu cổ đại đặc biệt chú ý. Các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, y học, triết học, xã hội học.v.v...Từ rất sớm trong lịch sử đã quan tâm đến con người và không ngừng nghiên cứu về nó. Mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó đều có ý nghĩa riêng đối vưói sự hiểu biết và làm lợi cho con người.

    Hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, lĩnh vực triết học lại có nhiều mâu thuẫn trong quan điểm, nhận thức và nó đã gây nên sự đấu tranh không biết khi nào dừng. Những lập trường chính trị trình độ nhận thức và tâm lý của những người nghiên cứu khác nhau và do đó đã đưa ra những tư tưởng hướng giải quyết khác nhau.

    Khi đề cập tới vấn đề con người các nhà triết học để tự hỏi: Thực chất con người là gì và để tìm cách trả lời câu hỏi đó phải giải quyết hàng loạt mâu thuẫn troch chính con người. Khi phân tích các nhà triết học cổ đại coi con người là một tiểu vũ trụ, là một thực thể nhỏ bé trong thế giới rộng lớn, bản chất con người là bản chất vũ trụ. Con người là vật cao quý nhất trong trời đất, là chúa tể của muôn loài. Chỉ đứng sau thần linh. Con người được chia làm hai phần là phần xác và phần hồn. Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo thì cho rằng: Phần hồn là do thượng đế sinh ra; quy định, chi phối mọi hoạt động của phần xác, linh hoòn con người tồn tại mãi mãi. Chủ nghĩa duy vật thì ngược lại họ cho rằng phần xác quyết định và chi phối phần hồn, không có linh hồn nào là bất tử cả, và quá trình nhận thức đó không ngừng được phát hiện. Càng ngày các nhà triết học tìm ra được bản chất của con người và không ngừng khắc phục lý luận trước đó.

    Triết học thế kỷ XV - XVIII phát triển quan điểm triết học về con người trên cơ sở khoa học tự nhiên đã khắc phục và bắt đầu phát triển. Chủ nghĩa duy vật máy móc coi con người như một bộ máy vận động theo một quy luật cổ. Học chủ nghĩa duy tâm chủ quan và thuyết không thể biết một mặt coi cái tôi và cảm giác của cái tôi là trung tâm sáng tạo ra cái không tôi, mặt khả cho rằng cái tôi không có khả năng vượt quá cảm giác của mình nên về bản chất là nhỏ bé yếu ớt, phụ thuộc đấng tới cao. Các nhà triết học thuộc một mặt đề cao vai trò sáng tạo của lý tính người, mặt khác coi con người, mặt khác coi con người là sản phẩm của tự nhiên và hoàn cảnh.

    Các nhà triết học cổ điển đức, từ Cartơ đến Heghen đã phát triển quan điểm triêt học về con người theo hướng của chủ nghĩa duy tâm. Đặc biệt Heghen quan niệm con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối là con người ý thức và do đó đời sống con người chỉ được xem xét vè mặt tinh thần Song Heghen cũng là người đầu tiên thông qua việc xem xét cơ chế hoạt động của đời sống tinh thần mà phát hiện ra quy luật về sự phát triển của đời sống tinh thần cá nhân. Đồng thời Heghen cũng đã nghiên cứu bản chất quá trình tư duy khái quát các quy luật cơ bản của quá trình đó.

    Sau khi đoạn tuyệt với chủ nghĩa duy tâm Heghen, phơ bách đã phê phán tính siêu tự nhiên, phi thể xác trong quan niệm triết học Heghen, ông quan niệm con người là sản phẩm của tự nhiên, có bản năng tự nhiên, là con người sinh học trực quan, phụ thuộc vào hoàn cảnh, ông đã sử dụng thành tựu của khoa học tự nhiên để chứng minh mối liên hệ không thể chia cắt của tư duy với những quá trình vật chất diễn ra trong cơ thể con người, song khi giải thích con người trong mối liên hệ cộng đồng thì phơ bách lại rơi vào lập trường của chủ nghĩa duy tâm.

    Tóm lại: Các quan niệm triết học nói trên đã đi đến những các thức lý luận xem xét người một cách trừu tượng. Đó là kết quả của việc tuyệt đối hoá phần hồn thành con người trừu tượng. Tự ý thức còn chủ nghĩa duy vật trực quan thì tuyệt đối hoá phần xác thành con người trừu tượng. Sinh học, tuy nhiên họ vẫn còn nhiều hạn chế, các quan niệm nói trên đều chưa chú ý đầy đủ đến bản chất con người.

    Sau này chủ nghĩa Mác đã kế thừa và khắc phục những mặt hạn chế đó, đồng thời phát triển những quan niệm về con người đã có trong các học thuyết triết học trước đây để đi tới quan niệm về con người thiện thực, con người thực tiễn cải tạo tự nhiên và xã hội với tư cdách là con người hiện thực. Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên và xã hội đồng thời vừa là chủ thể cải tạo tự nhiên.

    II. Quan điểm chủ nghĩa Mác về con người.

    a. Bản chất con người:

    Chủ nghĩa xã hội do con người và vì von người. Do vậy, hình thành mới quan hệ đúng đắn về con người về vai trò của con người trong sự phát triển xã hội nói chung, trong xã hội chủ nghĩa nói riêng là một vấn đề không thể thiếu được của thế giới quan Mác - Lênin.

    Theo chủ nghĩa Mác - Lênin con người là khái niệm chỉ những cá thể người như một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó. Con người là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giới sinh vật. Do vậy nhiều quy luật sinh vật học cùng tồn tại và tác động đến con người. Để tồn tại với tư cách là một con người trước hết con người cũng phải ăn, phải uống... Điều đó giải thích vì sao Mác cho rằng co người trước hết phải ăn, mặc ở rồi mới làm chính trị.

    Nhưng chỉ dừng lại ở một số thuộc tỉnh sinh học của con người thì không thể giải thích được bản chất của con người. Không chỉ có “con người là tổng hoà các quan hệ xã hội” mà thực ra quan điểm của Mác là một quan điểm toàn diện.

    Mác và Anghen nhiều lần khẳng định lại quan điểm của những nhà triết học đi trước rằng. Con người là một bộ phận của giới tự nhiên, là một động vật xã hội, nhưng khác với họ, Mác, Anghen; xem xét mặt tự nhiên của con người, như ăn, ngủ, đi lại, yêu thích... Không còn hoàn mang tính tự nhiên như ở con vật mà đã được xã hội hoá. Mác viết: “Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hoà của những mối quan hệ xã hội” con người là sự kết hợp giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội nên Mác nhiều lần đã so sánh con người với con vật, so sánh con người với những con vật có bản năng gần giống với con người... Và để tìm ra sự khác biệt đó. Mác đã chỉ ra sự khác biệt ở nhiều chỗ như chỉ có con người làm ra tư liệu sinh hoạt của mình, con người biến đổi tự nhiên theo quy luật của tự nhiên, con người là thước đo của vạn vật, con người sản xuất ra công cụ sản xuất... Luận điểm xem con người là sinh vật biết chế tạo ra công cụ sản xuất được xem là luận điểm tiêu biểu của chủ nghĩa Mác về con người.

    Luận điểm của Mác coi “Bản chất của con người là tổng hoà các quan hệ xã hội” Mác hoàn toàn không có ý phủ nhận vai trò của các yếu tố và đặc điểm sinh học của con người, ông chỉ đối lập luận điểm coi con người đơn thuần như một phần của giới tự nhiên còn bỏ qua, không nói gì đến mặt xã hội của con người. Khi xác định bản chất của con người trước hết Mác nêu bật cái chung, cái không thể thiếu và có tính chất quyết định làm cho con người trở thành một con người. Sau, thì khi nói đến “Sự định hướng hợp lý về mặt sinh học” Lênin cũng chỉ bác bỏ các yếu tố xã hội thường xuyên tác động và ảnh hưởng to lớn đối với bản chất và sự phát triển của con người. Chính Lênin cũng đã không tán thành quan điểm cho rằng mọ người đều ngang nhau về mặt sinh học. Ông viết “thực hiện một sự bình đẳng về sức lực và tài năng con người thì đó là một điều ngu xuẩn... Nói tới bình đẳng thì đó luôn luôn là sự bình đẳng xã hội, bình đẳng về địa vị chỉ không phải là sự bình đẳng về thể lực và trí lực của cá nhân”.

    Để khẳng định cho tiến trình phát triển lịch sử của xã hội loài người là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội, Mác đã nói tới việc lấy sự phát triển toàn diện của con người làm thước đo chung cho sự phát triển xã hội, Mác cho rằng xu hướng chung của tiến trình phát triển lịch sử được quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội bao gồm con người và những công cụ lao động do con người tạo ra, sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, tự nó đã nói lên trình độ phát triển của xã hội qua việc con người đã chiếm lĩnh xã hội và sử dụng ngày càng nhiều lực lượng tự nhiên với tư cách là cơ sở vật chất cho hoạt động sống của chính con người và quyết định quan hệ giữa người với người trong sản xuất. Sản xuất ngày càng phát triển tính chất xã hội hoá ngày cnàg tăng. Việc tiến hành sản xuất tập thể bằng lực lượng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do nó mang lại sẽ cần đến những con người hoàn toàn mới. Những con người có năng lực phát triển toàn diện và đến lượt nó, nền sản xuất sẽ tạo nên những con người mới, sẽ làm nên những thành viên trong xã hội có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển của mình theo Mác "phát triển sản xuất vì sự phồn vinh của xã hội, vì cuộc sống tốt đẹp hơn cho mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội và phát triển con người toàn diện là một quá trình thống nhất để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội" để sản xuất ra những con người phát triển toàn diện hơn nữa, Mác coi sự kết hợ chặt chẽ giữa phát triển sản xuất và phát triển con người là một trong những biện pháp mạnh mẽ để cải biến xã hội.

    Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất là yếu tố hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội mà hơn nữa, con người còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử. Thông qua hoạt động sản xuất vật chật con người sáng tạo ra lịch sử của mình, lịch sử 7của xã hội loài ngoài. Từ đó quan niệm đó Mác khẳng định sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội có ý nghĩa là sự phát triển phong phú bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân. Bởi vậy theo Mác ý nghĩa lịch sử mục đích cao cả của sự phát triển xã hội là phát triển con người toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm giá con người, giải phóng con người, loại trừ ra khỏi cuộc sống con người để con người được sống với cuộc sống đích thực. Và bước quan trọng nhất trên con đường đó là giải phóng con người về mặt xã hội.

    Điều đó cho thấy trong quan niệm của Mác thực chất của tiến trình phát triển lịch sử xã hội loài người là vì con người, vì cuộc sống ngày cnàg tốt đẹp hơn cho con người, phát triển con người toàn diện và giải phóng con người, nói theo Anghen là đưa con người từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do, con người cuối cùng cũng là người tôn tại của xã hội của chính mình, đồng thời cũng trở thành người chủ của tự nhiên, người chủ bản thân mình. Đó là quá trình mà nhân loại đã tự tạo ra cho mình những điều kiện, những khả năng cho chính mình nhằm đem lại sự phát triển toàn diện, tự do và hài hoà cho mỗi con người trong cộng đồng nhân loại tạo cho con người năng lực làm chủ tiến trình lịch sử của chính mình.

    Quan niệm của Mác về định hướng phát triển xã hội lấy sự phát triển của con người làm thước đo chung càng được khẳng định trong bối cảnh lịch sử của xã hội loài người. Ngày nay loài người đang sống trong bối cảnh quốc tế đầy những biến động, cộng đồng thế giới đang thể hiện hết sức rõ ràng tính đa dạng trong các hình thức phát triển của nó xã hội loài người kể từ thời tiền sử cho đến nay bao giờ cũng là một hệ thống thống nhất tuy nhiên cũng là một hệ thống hết sức phức tạp và chính vì sự phức tạp đó đã tạo nên tính không đồng đều trong sự phát triển kinh tế xã hội ở các nước, các khu vực khác nhau. Đến lượt mình, tính không đồng đều của sự phát triển này lại hình thành nên một bức tranh nhiều màu sắc về định hướng nào, thì mọi định hướng phát triển vẫn phải hướng tới giá trị nhân văn của nó - tới sự phát triển con người.

    Xã hội bao giờ cũng tồn tại nhiều giai cấp đó điều quan trọng là giai cấp đó có phục tùng được lòng dân hay không. Trải qua thời kỳ phát triển của xã hội loại người chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp đáp ứng đầy đủ mọi quy luật của cuộc sống và đó chính là lý do tại sao mác lại lấy giai cấp vô sản để nghiên cứu trong đó Mác tập trung nghiên cứu con người vô sản là chủ yếu.

    Theo Mác, người vô sản là ngừơi sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội hiện đại, nhưng lao động của họ lại bị tha hoá, lao động từ chỗ gắn bó với họ nay trở nên xa lạ nghiêm trọng hơn nữa chính nó đã thống trị họ, tình trạng bất hợp lý này cần phải được giải quyết. Với Mác, người vô sản là người tiêu biểu cho phương thức sản xuất mới, có sứ mệnh và hoàn toàn có khả năng giải phóng mình, giải phóng xã hội để xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn. Theo Mác "đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, con người không còn thất nghiệp, không còn bị ràng buộc vào một nghề nghiệp nhất định họ có thể làm bất kỳ một nghề nào nếu có khả năng và thích thú, họ có quyền làm theo năng lực, hướng theo nhu cầu tuy nhiên những ý muốn đó không xảy ra bởi vì cách mạng cộng sản chủ nghĩa không diễn ra theo ý của họ. Nó không diễn ra đồng loạt tren tất cả các nước tư bản, ít ra là ở các nước tư bản tiên tiến, trái lại nó lại diễn ra ở những nước xã hội chủ nghĩa tiêu biểu là nước Nga (Liên Xô cũ)… Một nước công nghiệp chưa phát triển, nông dân chiếm số đông trong dân số. Vì vậy quan niệm của ông về con người khó có điều kiện được chứng minh.

    b. Con người là chủ thể sinh động nhất của xã hội.

    Sự “sinh động” ở đây có nghĩa là con người có thể chinh phục tự nhiên, cỉa tạo tự nhiên. Tuy rằng con người đã bỏ xa giới động vật trong quá trình tiến hoá nhưng như thế không có nghĩa là con người đã lột bỏ tất cả những cái tự nhiên để không còn một sự liên hệ nào với tổ tiên của mình. Con người là sản phẩm tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh, đã là con người thì phải trải qua giai đoạn sinh trưởng, tử vong, mỗi con người đều có nhu cầu ăn, mặc ở, sinh hoạt... Song con người khong phải là động vật thuần tuý như các động vật khác mà xét trên khía cạnh xã hội thì con người là động vật có tính xã hội, con người là sản phẩm của xã hội, mang bản tính xã hội. Những yếu tố xã hội là tất cả những quan hệ, những biến đổi xuất hiện do ảnh hưởng của các điều kiện xã hội khác nhau, những quy định về mặt xã hội toạ nên con người. Con người chỉ có thể tồn tịa được khi tiến hành lao động sản xuất của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu mình và chính lao động sản xuất là yếu tố quyết định hình thành con người và ý thức. Lao động là nguồn gốc duy nhất của vật chất, vật chất quyết định tinh thần theo logic thì lao động là nguồn gốc của văn hoá vật chất và tinh thần.

    Mặt khác trong lao động con người quan hệ với nhau trong lĩnh vực sản xuất, đó là những quan hệ nền tảng để từ đó hình thành các quan hệ xã hội khác trong các lĩnh vực đời sống và tinh thần.

    Chính vì con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội cho nên con người chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên và xã hội cùng các quy luật biến đổi của chúng. Các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp giữa cơ thể và môi trường, quy luật về quá trình trao đổi chất... tác động tạo nên phương diện sinh học của con người. Các quy luật tâm lý, ý thức hình thành và hoạt động trên nền tảng sinh học của con người hình thành tư tưởng tình cảm khát vọng niềm tin, ý chí. Các quy luật xã hội quy định mối quan hệ giữa người với người, điều chỉnh hành vi của con người. Hệ thống các quy luật trên cũng tác động lên con người, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh giữa sinh học cái xã hội trong con người.

    Với tư cách là con người xã hội, là con người hoạt động thực tiễn con người sản xuất và của cải vật chất, tác động vào tự nhiên để cải tạo tự nhiên, con người là chủ thể cải tạo tự nhiên. Như vậy con người vừa do tự nhiên sinh ra, bị phụ thuộc vào tự nhiên vừa tác động vào tự nhiên. Tình cảm thống trị tự nhiên chỉ có con người mới khắc phục được tự nhiên bằng cách tạo ra những vật chất, hiện tượng không như tự nhiên bằng cách toạ ra những vật chất, hiện tượng không như tự nhiên vốn có bằng cách đó con người đã biến đổi bộ mặt của tự nhiên, bắt tự nhiên phải phục vụ con người. Tuy nó là sản phẩm của tự nhiên. Một điều chắc chắn rằng có con người chỉ có thể thống trị tự nhiên nếu biết tuân theo và nắm bắt các quy luật của chính bản thân đó. Quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng tạo ra lịch sử cho mình. Con người không những là sản phẩm của xã hội mà con người còn là chủ thể cải tạo chúng. Bằng mọi hoạt động lao động sản xuất con người sáng tạo ra toàn bộ nền văn hoá vật chất, tinh thần. Bằng hoạt động cách mạng. Con người đánh dấu thêm các trang sử mới cho chính mình mặc dù tự nhiên và xã hội đều vận động theo những quy luật khách quan song quá trình vận động của con người luôn xuất phát từ nhu cầu, động cơ và hứng thú, theo đuổi những mục đích nhất định và do đó đã tìm cách hạn chế hoặc mở rộng phạm vi tác dụng cuả quy luật cho phù hợp với nhu cầu và mục đích của mình. Nếu không có con người với tư cách là chủ thể sinh động nhất của xã hội thì không thể có xã hội, không thể có sự vận động của xã hội mà vượt lên tất cả chính là của cải vật chất.

    III. Vai trò của chủ nghĩa Mác về con người trong đời sống xã hội.

    Do nhân thức được vai trò và tầm quan trọng của vấn đề con người đạc biệt là vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta hiện nay. Đảng và nhân dân ta đã và đang xây dựng và phát triển đất nước toàn diện về nhiều mặt đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, nó phụ thuộc rất nhiều vào nhiều chiến lược con người: Cần đào tạo con người một cách có chiều sâu lấy tư tương và chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng, cũng như trên thế giới ở nước ta chiến lược con người nó có một ý nghĩa hết sức quan trọng và để phát triển đúng hướng chiến lược đó cần có một chính sách phát triển con người, không để con người đi lệch tư tưởng tuy nhiên trong thực tế không ít người sẽ ngang đi tìm khả năng phát triển nó trong chủ nghĩa tư bản. Nhiều người trở về phục sinh và tìm sự hoàn thiện con người trong các tôn giáo và các hệ tư tưởng truyền thống. Có người lại sáng tạo ra tư tưởng tôn giáo mới cho phù hợp với con người Việt Nam. Song nhìn lại một cdách khách quan và khoa học sự tồn tại của chủ nghĩa Mác - Lênin trong xã hội Việt Nam có lẽ không ai có thể phủ nhận được vai trò ưu trội và triển vọng cuả nó trong sự nghiệp phát triển con người tạo đà cho bước phát triển tiếp theo của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì một nước đang còn ở tình trạng kém phát triển như nước ta không thể không xây dựng một chính sách phát triển lâu dài, có tầm nhìn xa trông rộng phát triển con người nâng cao chất lượng của người lao động. Hơn bất cứ một lĩnh vực nghiên cứu nào khác, lĩnh vực phát triển con người là mục tiêu cao cả nhất của toàn dân, đưa loài người tới một kỷ nguyên mới, mở ra nhiều khả năng để tìm ra những con đường tối ưu đi tới tương lai con đường khả quan nhất cho sự nghiệp phát triển con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Trong đời sống xã hội thực tiễn cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về con người tại hội nghị lần thứ tư của ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII đề ra nghị quyết và thông qua nghị quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là "Động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội" Đó là "con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức". Bởi lẽ, người lao động nước ta ngày càng đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước theo cớ chế thị trường, dưới sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì chất lượng của người lao động là nhân tố quyết định nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định "Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi cuả công cuộc đổi mới đất nước". Thực tiễn đã chứng tỏ xã hội ta hiện nay tình trạng mất hài hoà về mặt bản thể của mỗi cá nhân là chủ yếu, là tất cả bản thể cá nhân phát triển toàn diện và hài hoà về đạo đức, trí tuệ, thể lực là mục tiêu xây dựng con người trong chủ nghĩa xã hội nhưng mục tiêu cơ bản và quan trọng hơn cả là vấn đề con người phải trở thành nhân tố quyết định lịch sử xã hộivà lịch sử của chính mình.

    Các nhà tư tưởng tư sản xuyên tạc chủ nghĩa Mác cho rằng đó là "chủ nghĩa không có con người" thực tế thì, chủ nghĩa Mác là một chỉnh thể thống nhất của ba bộ phận triết học nghiên cứu các quy luật của thế giới, giúp ta hiểu bản chất, mới quan hệ tự nhiên - xã hội - con người, chính trị kinh tế vạch ra quy luật đi lên của xã hội, chủ nghĩa xã hội khoa học chỉ ra con đường và phương pháp nghiên cứu con người. Chủ nghĩa Mác là một chỉ nghĩ vì con người, chủ nghĩa nhân đạo. Học thuyết đó không chỉ chứng minh bản chất của con người ("tổng hoà của các quan hệ xã hội") và bản tính con người ("luôn vươn tới sự hoàn thiện") mà còn vạch hướng đưă con người đi đúng bản chất và bản tính của mình, giải phóng, xoá bỏ sự tha hoá, tạo điều kiện phát huy mọi sức mạnh bản chất người, phát triển toàn diện, hài hoà cho từng cá nhân. Sự phù hợp giữa tư tưởng Mác Xít với bản chất và bản tính người đã thu phục và làm say mê những con người hằng mong vươn lên xây dựng xã hội mới, mở ra mọi khả năng cho sự phát triển con người.

    Chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin mới có thẻ vạch rõ được hướng đi đúng cho con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thực tế cho thấy cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam đã làm nên thắng lợi cách mạng giải phòng dân tộc (1945), thống nhất đất nước (1975) thực hiện ý chí độc lập tự do con người việt Nam điều mà bao nhiêu học thuyết trước Mác không thể áp dụng được, và chính chủ nghĩa Mác - Lênin đã làm thay đổi, trở thành hệ tư tưởng chính thống của toàn xã hội, thay đổi nhanh chóng đời sống tinh thần đại đa số nhân dân Việt Nam. Thực tiễn hoạt động cách mạng xã hội chủ nghĩa vừa nhanh chóng nâng cao trình độ nhận thức toàn diện. Bằng hệ thống giáo dục với các hình thức đào tạo đa dạng, với các hình thức khoa học thấm nhuần tinh thần cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin đã hình thành kế tiếp nhau những lớp người lao động mới ngày càng có tư tưởng, trình độ chung, chuyên môn cao ngày nay chúng ta đã có một đội ngũ cán bộ văn hoá khoa học công nghệ với trình độ lý luận và quản lý tốt đồng đều trong cả nước.

    Có thể nói chỉ trong một thời gian ngắn hệ tư tưởng Macxít đã thể hiện xu hướng của mình đối với nền văn hoá dân dã, xoá bỏ dần dần sự thống trị của các loại tư tưởng tự phát, lạc hậu, thấp kém trong con người cũ, mê tín dị đoan, các niềm tin mù quáng… Với sức mạnh có tính khoa học, học thuyết Mác - Lênin đã vạch rõ được những yếu tố phi khoa học, phi nhân đạo, các loại thế giới quan, nhân sinh quan sai lệch mà trước đó đã làm mai một trí tuệ, tính tích cực trong con người của các hệ tư tưởng truyền thống. Mặt khác, chủ nghĩa Mác - Lênin còn thể hiện rõ tính ưu việt trong con người đối với các luồng tư tưởng tư sản ngoại nhập của Phương Tây, và các trào lưu tư tưởng tư sản hiện tại đang làm lệch hướng đi của những con người chân chính trong điều kiện đời sống vật chất khó khăn. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc xiềng xích của chân lý cổ truyền, của nền sản xuất tiểu nông với tư duy còn hạn chế, kinh nghiệm, phi khoa học trong con người thiếu văn hoá do xã hội cũ để lại đã được tri thức khoa học Mác xít phá tan. Một ý thức tiên tiến ra đời. Các tín ngưỡng dần dần cũng phải nhường chỗ cho niềm tin khoa học. Các yếu tố tư duy duy vật biện chứng hình thành trong đời sống thường ngày, trong lao động, cũng như trong mọi hoạt động của xã hội. Thế giới quan khoa học ngày càng ăn sâu ở những con người luôn phấn đấu cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội nó nhìn thế giới, xã hội, con người trong sự vận động và phát triển trong tính hiện thực và tiềm ẩn những khả năng, sự tồn tại khách quan là điều kiện sống và sự phát triển con người.

    Thế giới quan đó hàm chứa nhân sinh quan tiến bộ, khắc phục dần những quan niệm sai lầm, phiến diện về con người của các hệ tư tưởng khác.

    Sự chuyển đổi hệ tư tưởng dẫn đến chuyển đổi hệ giá trị của xã hội và giá trị con người, con người từ chỗ phục tùng chuyển sang tự chủ, sáng tạo, từ chỗ dựa trên tập quán chuyển sang lý trí, dân chủ, từ chí tìm cách hoà đồng chuyển sang tôn trọng cả cá tính và bản lĩnh riêng. Các chuẩn mực mới của con người đòi hỏi không chỉ phát triển từng mặt riêng lẻ mà phải là cá nhân phát triển hài hoà tính cách mạng của học thuyết Mác xít khắc phục dần lối sống thụ động, hẹp hòi, làm cơ sở cho lối sống tích cực, vì xã hội, phát triển ý thức luôn vươn lên làm chủ và xây dựng cuộc sống mới xuất hiện những nhân cách mới.

    Tuy nhiên sự phát triển con người ngày nay không chỉ là sản phẩm của hệ tư tưởng Mác xít vì ngay khi chủ nghĩa Mác xít trở thành hệ tư tưởng chính thống ở Việt Nam thì các tôn giáo, các hệ tư tưởng và văn hoá bản địa đã có sức sống riêng của nó. Chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập, nó như một hệ tư tưởng khoa học vượt hẳn lên cái nền văn hoá bản địa, nhưng nó cũng chịu sự chi phối tác động đan xen của các yếu tố sai - đúng, yếu - mạnh, mới - cũ, v.v.. Các yếu tố tích cực đã thúc đẩy, còn các yếu tố tiêu cực thì kìm hãm sự phát triển con người.

    Sự văn minh, phát triển hoá con người Việt Nam của chủ nghĩa Mác - Lênin vừa có lợi thế song cũng không tránh khỏi những sai lầm. Sai lầm là sự chống trả của tư tưởng văn hoá bản địa đã thành truyền thống. Lợi thế là văn hoá bản địa chưa có một hệ tư tưởng khoa học định hình vững chắc, nó dường như đang thiếu một lý thuyết khoa học. Nếu như không có chủ nghĩa Mác - Lênin xã hội Việt Nam phát triển hơn, đó là tư tưởng của những người thiếu hiểu biết về một xã hội tiến bộ, luôn coi cái trước mắt mình là những thứ vô giá trị mà chỉ chạy theo trào lưu, điều đáng trách hơn là họ cần cho rằng văn hoá Việt Nam sẽ phong phú hơn, đặc sắc hơn. Thực tế, từ khi xuất hiện chủ nghĩa Mác - Lênin xã hội Việt Nam như được tiếp thêm sức mạnh, phát triển có khoa học hơn, ở khía cạnh nào đó trình độ dân trí, trình độ năng lực, văn hoá, khoa học, nghệ thuật… Con người Việt Nam không thua kém con người của các nước văn minh khác.

    Theo chủ nghĩa Mác - Lênin con người chỉ những cá thể, là sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó. Cái mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã làm được đó là lý luận con người trong xã hội chứ không chỉ mặt sinh học như trước đây. Và chính vậy mà nó đã được áp dụng vào xã hội Việt Nam, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa con người là yếu tố quyết định vừa là điểm xuất phát vừa là mục tiêu của mọi chính sách kinh tế - xã hội. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng được một xã hội mà ở đó có đủ những điều kiện vật chất và tinh thần để thực hiện trong thực tế nguyên tắc "Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người" và ở một đất nước ta, một đất nước đang còn nghèo nàn thì việc phát triển yếu tố con người là một vấn đề mà Đảng ta đã xác định đó là vấn đề then chốt cho sự phát triển kinh tế đất nước lấy chủ nghĩa Mác - Lênin là kim chỉ nam cho mọi hoạt động.

    Chúng ta cũng đã có những đổi mới rõ rệt, sự phát triển hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, sự phân hoá giàu nghèo sự phân tầng xã hội, việc mở rộng dân chủ đối thoại trong sinh hoạt chính trị của đất nước, việc mở cửa và phát triển giao lưu quốc tế về các mặt kinh tế, văn hoá và chính trị, trên thế giớ. Sự biến đổi nhanh chóng của tình hình chính trị quốc tế, sự phát triển vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ… Điều đó đòi hỏi chúng ta phải biết vận dụng chủ nghĩa Mác một cách khoa học, hợp lý và sáng tạo để đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội mới nếu muốn tồn tại và vươn lên một tầm cao mới.

      bởi Nguyễn Đức Thuận 31/07/2019
    Like (0) Báo cáo sai phạm

Nếu bạn hỏi, bạn chỉ thu về một câu trả lời.
Nhưng khi bạn suy nghĩ trả lời, bạn sẽ thu về gấp bội!

Lưu ý: Các trường hợp cố tình spam câu trả lời hoặc bị báo xấu trên 5 lần sẽ bị khóa tài khoản

Gửi câu trả lời Hủy
YOMEDIA

Video HD đặt và trả lời câu hỏi - Tích lũy điểm thưởng

Các câu hỏi có liên quan

 

YOMEDIA
1=>1