• Câu hỏi:

    Trình bày nội dung, cơ sở lí luận của nguyên tắc toàn diện và vai trò của nguyên tắc đó trong hoạt động nhận thức/thực tiễn. Ví dụ phân tích.

    Lời giải tham khảo:

    • Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lí luận cuả nguyên tắc toàn diện. Trong lịch sử triết học, để trả lời cho những nghi vấn về sự tồn tại của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng  và nếu có thì nhân tố nào quy định sự liên hệ giữa chúng đã có những quan điểm khác nhau.
    • Quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại một cách biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia. Giữa chúng không có sự phụ thuộc, ràng buộc và quy định lẫn nhau. Có chăng thì chỉ là những liên hệ bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên.
    • Chủ nghĩa Duy tâm thì lại thừa nhận có mối liên hệ phổ biến, nhưng họ lại cho rằng cái quy định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên như thần linh, thượng đế, là cảm giác hay là ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới.
    • Trái lại, chủ nghĩa Duy vật biện chứng cho rằng, thế giới là một chỉnh thể thống nhất, các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành vừa tồn tại độc lập, tách biệt nhau nhưng vùa lại có sự liên hệ, quy định, tác động qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại biệt lập ngoài mối liên hệ với sự vật, hiện tượng khác. Chủ nghĩa Duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở cho mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng. Trên cơ sở đó, Chủ nghĩa Duy vật biện chứng khẳng định, mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa nhiều các yếu tố, các mặt hay quá trình khác của một sự vật, hiện tượng trong thế giới.
    • Các sự vật hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, sự tác động qua lại lẫn  nahu. Bản chất, tính quy luật của sự vât, hiện  tượng cũng chỉ được bộc lộ thông qua sự tác động qua lại giữa các mặt của bản thân chúng và sự tác động của chúng với các sự vật, hiện tượng khác.
    • Quan điểm của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng về mối liên hệ phổ biến là quan điểm duy vật, nó coi mọi mối liên hệ của các sự vật hiện tượng là khách quan, vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, không do ai sắp đặt, sáng tạo ra.
    • Mối liên hệ còn mang tính phổ biến, thể hiện thứ nhất là bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong cả thế giới tự nhiên và xã hội cũng tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Không có sự vật hiện tượng nằm ngoài mối liên hệ, ví dụ như xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa trong mọi hoạt động đời sống xã hội. Mặt biểu hiện thứ hai đó là mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể tùy theo điều kiện nhất định. Song, dù dưới hình thức nào thì cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất.
    • Mối liên hệ còn mang tính đa dạng, mỗi lĩnh vực khác nhau của thế giới và biểu hiện những mối liên hệ khác nhau, rất phong phú và nhiều vẻ. Mỗi loại mối liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. có thể phân chia theo từng cặp như mối liên hệ bên ngoài và mối liên hệ bên trong; mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu; mối liên hệ gián tiếp và liên hệ trực tiếp. Sự phân chia trên chỉ mang tính tương đối vì mỗi cặp mối liên hệ chỉ là một hình thức, một mắt xích, một bộ phận của mối liên hệ phổ biến; chúng có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy vào phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên sự phân chia này lại rất cần thiết vì qua đó sẽ xác định được vị trí và vai trò trong sự vận động và phát triển của sự vật.
    • Từ việc nghiên cứu nguyên lí về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, triết học Mác – Lênin đã rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức; khi nhận thức về sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ mà đã vội vàng đưa ra kết luận về bản chất hay tính quy luật của chúng.
    • Các sự vật hiện tượng trong thế giới luôn luôn liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác, do vậy trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn phải xem xét sự vật trong mối liên hệ hữu cơ giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính của sự vật, hiện tượng đó, trong mối liên hệ qua lại với các sự vật khác kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp, phải tính đến mọi mối liên hệ, nghĩa là phải đứng trên quan điểm toàn diện, chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật.
    • Bên cạnh đó, các sự vật, hiện tượng còn có rất nhiều mối liên hệ, các mối liên hệ có vai trò, vị trí khác nhau trong sự vận động, phát triển của sự vật. Do vậy, khi nghiên cứu sự vận động, phát triển của sự vật cần dựa vào thực tiễn cụ thể để tiến hành phân loại các mối liên hệ để thấy rõ nội dung, vai trò, vị trí của từng mối liên hệ và từ đó có cách tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của cong người, đồng thời tránh được những quan điểm “cào bằng” coi vị trí các mối liên hệ là như nhau. Điều này có nghĩa nguyên tắc toàn diện không đồng nghĩa với việc xem xét dàn trải, liệt kê các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng mà đòi hỏi cần làm sáng tỏ cái cơ bản, cái quan trọng nhất.

    Ví dụ phân tích: Vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH đất nước.

    Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò rất quan trọng vào sự tăng trưởng, phát triển chung của nền kinh tế các nước đang phát triển, cụ thể là Việt Nam những năm vừa qua. Nguồn vốn này là đã trở thành nguồn lực bù đắp sự thiếu hụt tiết kiệm, ngoại tệ, thu nhập và quản lí đối với các nước tiếp nhận. Đối với Việt Nam, chúng ta đang thực hiện quá trình CNH, HĐH đất nước, chúng ta chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế nhằm huy động tối đa những nguồn lực bên trong và bên ngoài để phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước.

    Tác động tích cực và thành quả đã đạt được:

    • Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án đầu tư nước ngoài (ĐTNN), vốn ĐTNN đã không ngừng tăng về cả số lượng mà ngày càng xuất hiện nhiều dự án có quy mô lớn đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ. Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là khu vực có tốc độ phát triển năng động nhất, đóng góp của ĐTNN trong tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2001 -2007 chiếm khoảng 16%. Tốc độ tăng trưởng của khối công nghiệp có ĐTNN tăng trưởng bình quân 42,5% cao hơn mức tăng trưởng chung của cả nước, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH.
    • ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô…. Bên cạnh đó, ĐTNN đã góp phần hình thành và phát triển trong cả nước hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ, hiện đại.
    • Cùng với đó là mức đóng góp vào ngân sách quốc gia ngày càng gia tăng và có tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán và mở rộng nguồn thu ngoại tệ.
    • Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực này tăng nhanh và cao hơn so với mức bình quân cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu cả nước nhất là các mặt hàng dầu khí, hàng điện tử, sản phẩm da giày, may mặc…. Cuối cùng phải kể đến vai trò to lớn của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là đã góp phần quan trọng vào việc mục tiêu giải quyết việc làm, đến nay, khu vực này đã tạo ra hơn 1,2 triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp khác.
    • Cùng với những lợi ích kể trên còn phải kể đến lợi ích từ những kinh nghiệm quản lí, khả năng kinh doanh, kỹ năng công nghệ thông qua quá trình chuyển giao.

    Những tác động tiêu cực:

    • Để đánh giá một cách toàn diện về vấn đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài, bên cạnh những ưu điểm trên thì việc đánh giá những tác động tiêu cực là rất cần thiết. Thứ nhất, mặc dù tác động ban đầu của vốn ĐTNN là làm tăng ngoại tệ nhưng về lâu dài lại có thể làm giảm thu nhập ngoại tệ trên cả tài khoản vãng lai và tài khoản vốn do tình trạng xấu đi vì nhập khẩu quá mức sản phẩm trung gian, hàng hóa vốn; do việc mang lợi nhuận về nước đầu tư…
    • Thứ hai đó là xét về mặt lợi ích công cộng, tuy khu vực ĐTNN đóng góp một khoản khá lớn vào thuế kinh doanh nhưng đóng góp của họ lại thấp hơn đáng kể so với mức đáng lẽ ra họ phải nộp do việc miễn giảm thuế, giá chuyển nhượng, chiết khấu đầu tư quá mức…
    • Thứ ba, những tác động tiêu cực về mặt xã hội như vẫn đề bất bình đẳng trong thu nhập, gây ra xu hướng xấu đi sự mất cân đối giữa các khu vực kinh tế, các vùng kinh tế hay các cơ hội kinh tế giữa nông thôn và thành thị. Ngoài ra, với lợi thế về vốn, nguồn lực, khả năng kinh doanh, công nghệ thì khu vực có vốn ĐTNN có thể gây ra sự cạnh tranh không tương xứng đối với phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước.
    • Cuối cùng là ở khía cạnh chính trị, các công ty đa quốc gia có thể kiểm soát tài sản và việc làm trong nước, gây ảnh hưởng đến các chính sách tại tất cả các cấp.
    • Từ những tác động của nguồn vốn đầu tư nước ngoài như đã phân tích, để tiếp tục thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này cần đưa ra những định hướng, chiến lược và giải pháp cụ thể để chúng ta luôn chủ động trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn này, giữ vững tiêu chí: nguồn vốn nước ngoài là điều kiện cần thiết, quan trọng nhưng nguồn vốn trong nước là điều kiện quyết định, chủ động.

    Các định hướng đề ra như sau:

    • Tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của chủ trương thu hút FDI
    • Tập trung thu hút FDI vào những ngành, nghề, lĩnh vực có lợi thế so sánh của nước ta với các nước khác
    • Khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn vào khắc phục dần sự chênh lệch giữa các vùng lãnh thổ
    • Chuyển đối tác đầu tư
    •  Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với đầu tưe trực tiếp nước ngoài

     Giải pháp thu hút FDI:

    • Mở rộng hình thức thu hút FDI, quy hoạch thu hút FDI
    • Cải tiến quy chế đầu tư vào các khu công nghiệp và khu chế xuất ở Việt Nam
    • Về thủ tục hành chính
      • Cải tiến thủ tục cấp giấy phép đầu tư
      • Đơn giản hoá thủ tục hải quan
      • Giáo dục pháp luật cho lao động trong các doanh gnhiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
      • Thực hiện công tác kiểm tra hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
      • Thực hiện các biện pháp bảo đảm đầu tư
    • Tu sửa kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội
    • Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư
    • Tiếp tục đổi mới chính sách thu hút FDI: chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách lao động, tiền lương, chính sách công nghệ, thị trường…

    Vấn đề thu hút vốn FDI đối với nền kinh tế Việt Nam là một yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế; dựa trên nguyên tắc toàn diện chúng ta cần phân biệt rõ ràng các nhân tố, điều kiện, các mối liên hệ giữa chúng để tìm ra các biện pháp tác động tích cực nhất.

 

 

CÂU HỎI KHÁC