AMBIENT
  • Câu hỏi:

    Phân tích mâu thuẫn giữa hệ thống triết học và phương pháp trong triết học của Hêghen.

    Lời giải tham khảo:

    • Hêghen là một trong ba triết gia tiêu biểu nhất của triết học cổ điển Đức - một giai đoạn lịch sử tương đối ngắn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX nhưng đã tạo ra những thành quả kỳ diệu trong lịch sử triết học; sự mâu thuẫn trong triết học của ông giữa một bên là phương pháp biện chứng khoa học và một bên là hệ thống triết học duy tâm đã trở thành một trong những nguồn gốc lí luận của tiết học mácxít.
    • Hêghen là nhà duy tâm khách quan, quan điểm triết học của ông là hệ thống duy tâm cổ điển cuối cùng, đạt đến trình độ và sự phát triển nhất của phép biện chứng duy tâm. Ông coi tinh thần thế giới là cái có trước, khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà là “ý niệm tuyết đối” hay “tinh thần thế giới”; vật chất với tư cách là sự thể hiện, sự biểu hiện cụ thể của “tinh thần thế giới”, là cái có sau; tính phong phú, đa dạng của thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối.
    • Tinh thần thế giới hay ý niệm tuyệt đối là nguồn gốc, là động lực của mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội, trong quá trình tự phát triển của nó diễn ra qua các giai đoạn khác nhau và ngày càng thể hiện đầy đủ nội dung bên trong của nó, như vậy đây là sự phát triển biện chứng nhưng không phải là sự phát triển tự thân mà là sự phát triển dựa vào ý niệm tuyệt đối.
    • Hêghen là nhà biện chứng, ông có công hoàn thiện và phát triển một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phép biện chứng – đây là điều mà phép biện chứng thời cổ đại Hy Lạp đã chưa thể đạt tới và cả chủ nghĩa duy vật thế kỉ XVII – XVIII Tây Âu cũng không có khả năng tạo ra. Ông phê phán tư duy siêu hình, máy móc và người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng nghĩa là trong mối liên hệ biện chứng. Trong khuôn khổ hệ thống triết học duy tâm của mình, Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù chất, lượng, phủ định, mâu thuẫn… mà còn đề cập đến vấn đề “lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại; phủ định của phủ định; quy luật mâu thuẫn…”.
    • Tuy nhiên, tất cả những phạm trù trên lại là quy luật vận động và phát triển của bản thân tư duy, của ý niệm tuyệt đối. Trong quan niệm của Hêghen, không phải ý thức, tư tưởng phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của tự nhiên, xã hội mà là ngược lại, ý niệm tuyệt đối là tính thứ nhất, giới tự nhiên là tính thứ hai, do tinh thần thế giới sinh ra và quyết định. Sự phát triển đó trong điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, trước hết là sự phát triển trong bản thân nó, sau đó nó thể hiện dưới hình thức thông qua giới tự nhiên, xã hội. Một sự “tồn tại khác” của tinh thần sau khi trải qua giai đoạn “tồn tại khác” đó, ý niệm tuyệt đối hay tinh thần thế giới mới trở lại “bản thân mình” và đó là giai đoạn cao nhất, giai đoạn tột cùng, được HÊGHEN gọi là tinh thần tuyệt đối.
    • Có thể nói cái mới trong hệ thống triết học của ông là phương pháp biện chứng duy tâm; ông xem xét tinh thần thế giới, ý niệm tuyệt đối là một quá trình phát triển không ngừng, phương pháp biện chứng về ý niệm tuyệt đối là cơ sở đầu tiên và là nguồn gốc của mọi tồn tại.
    • Tuy nhiên, nếu phương pháp biện chứng của ông là hạt nhân hợp lí, chứa đựng tư tưởng thiên tài về sự phát triển thì hệ thống  triết học duy tâm của ông lại phủ nhận tính chất khác quan của những nguyên nhân nội tại, vốn có của sự phát triển tự nhiên và xã hội; như vậy biện chứng ở đây mới chỉ dừng lại ở hình thức biện chứng duy tâm, biện chứng bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới. Đó chính là sự mâu thuẫn giữa phép biện chứng và hệ thống triết học duy tâm của Hêghen, đây cũng là tiền đề để triết học Mác khắc phục, kế thừa và nâng lên trình độ mới của phép biện chứng duy vật hiện đại.
    ADSENSE

 

 

CÂU HỎI KHÁC

AMBIENT
?>