AMBIENT
  • Câu hỏi:

    Phân biệt giữa lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức cho vay, lợi nhuận ngân hàng và địa tô TBCN

    Lời giải tham khảo:

    TB thương nghiệp và lợi nhuận thương nghiệp

    • Trong CNTB, TB thương nghiệp là một bộ phận của TB công nghiệp được tách rời ra để phục vụ quá trình lưu thông hàng hóa của TB công nghiệp.
    • Việc tạo ra giá trị thặng dư và phân chia giá trị thặng dư là hai vấn đề khác nhau. Lĩnh vực lưu thông cũng như hoạt động của các nhà TB thương nghiệp tuy không tạo ra giá trị thặng dư nhưng vị trí, tầm quan trọng của lưu thông đối với sự phát triển của SX và tái SX nên các nhà TB vẫn được tham gia vào việc phân chia giá trị thặng dư cùng với các nhà TBCN, và phần giá trị mà các nhà TB thương nghiệp được chia chính là lợi nhuận thương nghiệp.

    ⇒ Vì vậy, thực chất thì lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản thương nghiệp để tư bản thương nghiệp bán hàng hoá cho mình.

    TB cho vay và lợi tức cho vay

    • TB cho vay là TB tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà người chủ sở hữu nó cho người khác sử dụng trong một thời gian nhằm nhận được số tiền lời nhất định. Số tiền đó được gọi là lợi tức.
    • Do có TB tiền tệ để nhàn rỗi nên nhà TB cho vay đã chuyển tiền của mình cho nhà TB đi vay sử dụng. tiền nhàn rỗi khi vào tay nhà TB đi vay sẽ trở thành TB lưu động. Trong quá trình vận động nhà TB sẽ thu được lợi nhận bình quân nhưng nhà TB đi vay không được hưởng toàn bộ số lợi nhuận bình quân đó mà phải trích ra một phần trả cho nhà TB cho vay dưới hình thức lợi tức.
    • Như vậy, lợi tức chính là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay về quyền sở hữu tư bản để được quyền sử dụng tư bản trong một thời gian nhất định. Lợi tức ký hiệu là z
    • Nguồn gốc của lợi tức cũng là một phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất.

    Ngân hàng và lợi nhuận ngân hàng

    • Ngân hàng trong CNTB là xí nghiệp kinh doanh tiền tệ, làm môi giới giữa người đi vay và người cho vay. Ngân hàng có hai nghiệp vụ : nhận gửi và cho vay. Về nguyên tắc lợi tức cho vay phải cao hơn lợi tức nhận gửi.
    • Sự chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửi sau khi trừ đi những chi phí về nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng cộng với các thu nhập khác về kinh doanh tư bản tiền tệ hình thành nên lợi nhuận ngân hàng.
    • Nguồn gốc của lợi nhuận ngân hàng là một phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất.

    QHSX TBCN trong nông nghiệp và địa tô TBCN

    • Cũng như các nhà tư bản kinh doanh trong công nghiệp, các nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp cũng phải thu được lợi nhuận bình quân. Nhưng muốn kinh doanh trong nông nghiệp thì họ phải thuê ruộng đất của địa chủ. Vì vậy, ngoài lợi nhuận bình quân ra nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải thu thêm được một phần lợi nhuận siêu ngạch. Lợi nhuận siêu ngạch này tương đối ổn định và lâu dài và nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp dùng để trả cho người sở hữu ruộng dưới hình thái địa tô tư bản chủ nghĩa.
    • Như vậy,địa tô tư bản chủ nghĩa là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân của tư bản đầu tư trong nông nghiệp do công nhân nông nghiệp tạo ra mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ.
    • Nguồn gốc của địa tô tư bản chủ nghĩa là là một phần giá trị thặng dư do công nhân  nông nghiệp sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.

    Kết luận: lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức cho vay, lợi nhuận ngân hàng và địa tô TBCN đều là các hình thái biến tướng của giá trị thặng dư do công sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp.

    RANDOM

 

 

CÂU HỎI KHÁC

AMBIENT
?>